Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013
THƠ TẶNG BẠN
DỊU DÀNG , ĐÊM !
Thân tặng MINH ĐỨC
Nồng nàn đêm lặng trăng thanh
Từ xa xăm đến bên anh dịu dàng
Em như ngọn nến mong manh
Ta ru em, lá ru cành miên man
Đêm thu e ấp ngại ngần
" Ta đưa em đến tận cùng yêu thương"
Xin hôn năm ngón tay buồn
"Để tin có thật thiên đường trong em"
Nồng nàn ơi, hỡi bóng đêm
Thơm thơm hương tóc, thanh thanh dáng ngà
Ánh trăng soi bóng la đà
Duyên trời cho để tình ta thắm nồng./.
Phỏng thơ TNH Công Lý
Một đêm mưa , 25/8/2013
Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013
MẸ TÔI
Đúng vào rạng sáng ngày rằm tháng 7, ngày lễ VU LAN, ngày con cái báo hiếu với Cha Mẹ , bỗng nhiên tôi gặp lại Mẹ tôi. Tôi vẫn đang nằm trên giường, tôi thấy có một bóng người đi lại đến sát bên giường tôi rồi bóng người đó cúi xuông bên tôi , lấy chiếc chăn mỏng đắp lên người tôi, tôi ngước nhìn và thốt lên một tiếng "Mẹ". Tôi nhìn thấy nét mặt thoáng nhiều nếp nhăn của Mẹ, tôi chỉ muốn nghe được một tiếng nói yêu thương của Mẹ, nhưng Mẹ chỉ lặng im nhìn tôi , trên môi hé một nụ cười, nụ cười thật hiền hòa, độ lượng. Tôi lại gọi lần nữa "Mẹ ơi ", nhưng đáp lại chỉ có bóng đêm . Tôi chợt tỉnh giấc ,thì ra tôi đã gặp lại Mẹ tôi trong một giấc mơ.
Mẹ tôi người Huế gốc, bà còn thuộc giòng dõi Hoàng tộc nên có tên gọi là Công Tằng Tôn nữ thị Xuân Duyệt. Năm 1930 Bà lấy cha tôi một kiến trúc sư vừa tốt nghiệp trương cao đằng mỹ thuật Đông dương của Pháp. Năm 1933 Bà sinh hạ con trai đầu lòng rồi bế con theo chồng ra Hà Nội sinh sống. Năm 1941 Mẹ sinh tôi tại một nhà hộ sinh tư ở phố Quán Sứ con phố mà gia đình tôi trú ngụ tại số nhà 38. Tôi không nhớ được gì về thời thơ bé lẫm chẫm bước đi đầu tiên của mình, nhưng tôi nhớ khá rõ lúc tôi lên 6 tuổi thì gia đình tôi sống rất sung túc, tôi có một vú em riêng , Mẹ tôi không cho con nào bú nhưng Bà lại luôn chăm lo cuộc sống của chồng và các con, Bà nấu ăn rất ngon, thành thạo các món Huế. Năm 1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ , nghe theo tiếng gọi của Bác Hồ ,cha tôi đưa cả nhà tản cư lên Tuyên Quang Việt Bắc. Tôi nhớ mấy năm đó Mẹ tôi trồng sắn, ngô, rau bí , cuộc sống cũng tạm đủ, tôi vân được tối tối đốt đuốc đến trường làng. Cuối năm 1953 cha tôi về rồi cho người đưa tôi lên biên giới để sang Trung Quôc học tai trường thiếu nhi ở Quế Lâm. Buổi chia tay tôi cứ ôm lấy Mẹ mà khóc, Mẹ tôi cũng rơi nước mắt không muốn xa con. Năm 1957 trở về nước tôi sống cùng cha mẹ ở phố Phó Đức Chính. Mẹ vẫn chăm lo cuộc sông cho cả gia đình. Năm 1961 tôi sang Bắc Kinh học đai hoc, trở về vào làm việc tai Bộ Ngoại giao. Liên tục mấy năm đó tôi xa gia đình, xa người Mẹ thân yêu, tôi luôn nhớ Mẹ ,lần nào về nước tôi cũng mua quà cho Mẹ khi là cái khăn trùm đầu, khi là miếng vải may áo bông cho mẹ, những lúc ấy mẹ chỉ mỉm cười xoa đầu tôi mà không nói gì nhiều. Tôi nhớ nhất là nụ cười của mẹ, hàm răng nhuộm đen, nụ cười thật hiền hậu.
Sau ngày đất nước toàn thắng được một năm thì biến cố đã xảy ra, đó là vào tháng 10 năm 1976 mẹ tôi lần thư 2 trở về quê Huế rồi tư đó đáp xe đò vào Sai Gòn, lên Đà Lạt thăm người anh trai sau bao nhiêu năm xa cách. Không ngờ đó là chuyến đi định mệnh. Tai nạn ô tô xảy ra trên đoạn đường quốc lộ thuộc tỉnh Khánh Hòa đã cướp đi sinh mạng của người Me thân yêu của tôi. Khi mấy cha con chúng tôi vào tới đia điểm xảy ra tai nạn thi Mẹ tôi đã được đia phương chôn cất, bên mộ mẹ chúng tôi khóc nức nở, thế là từ đó mẹ không còn bên tôi nữa, mẹ đã đi xa vào cõi vĩnh hằng. Một năm sau cha con chúng tôi đưa tro hài cốt Mẹ lên một ngôi chùa của người Huế ở Sai Gòn, vài năm sau nữa khi cha tôi cũng đã qua đời, chung tôi đưa tro hài cốt Mẹ ra Bắc đặt bên cạnh thi hài cha trong một ngôi mộ hai ngăn, vậy là chung tôi những đứa con đã được thường xuyên hương khói cho linh hồn cha mẹ muôn ngàn yêu thương yên nghỉ ngàn thu.
Cứ đến ngày lễ VU LAN hàng năm là tôi lại thắp nén hương để tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Năm nay tôi dâng lên bàn thờ Mẹ mấy câu thơ , đó là tâm tư tận đáy lòng của đứa con trai .
MẸ ƠI !
Đêm qua gặp mẹ trong mơ
Lòng con nhớ mẹ vô bờ mẹ ơi
Nhớ nét mặt , nhớ nụ cười
Mẹ cho con cả cuộc đời hôm nay
Cho con thỏa sức làm trai
Năm châu bốn biển dặm dài con đi
Khi gian khó, lúc lâm nguy
Mẹ luôn tận tụy lo vì chúng con
Bàn tay tần tảo ân cần
Cho con đủ cả phúc gần lộc xa
Tình thương của mẹ bao la
Như trời xanh như biển xa dạt dào
Đắng cay hơn cả ngọt ngào
Lời ru của mẹ thấm vào đời con
Hôm nay con thắp nén nhang
Cầu mong mẹ dưới suối vàng bình yên .
Ngày lễ VU LAN 21/8/2013 Công Lý
Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013
KỶ NIỆM TRƯỜNG XƯA
Chỉ còn ít ngày nữa là tới ngày kỷ niệm trường THIẾU NHI DỤC TÀI HỌC HIỆU Lư Sơn Quế Lâm của chúng ta tròn 60 năm. 60 năm qua đi như một giấc mơ, những cô bé, cậu bé năm nào nay đã là những bà lão, ông lão ngoại thất tuần, mái tóc xanh thuở nào nay đều đã điểm bạc. Mái trường xưa, tình bạn thuở ấu thơ để lại trong lòng mỗi chúng ta bao hoài niệm chẳng bao giơ nhạt phai. Ngày ấy bên dòng LY giang hiền hòa trong xanh, chúng ta đã sông bên nhau những tháng năm thanh bình yên vui trong tình bằng hữu thơ ngây, vô tư dưới một mái trường trên đất bạn Quế Lâm .
Trong những ngày hè oi ả này, nhớ về mái trường xưa, bao nhiêu kỷ niêm tuổi thơ khi chập chững vào đời lại ùa về trong ký ức tôi. Ngày ấy tôi và nhiều bạn nữa trong lớp 5A còn nhỏ tuổi, chỉ 11 , 12, rất ngu ngơ ,dại khờ chẳng biết gì về sự đời, nhưng một số ban khác lớn hơn chúng tôi một, hai tuôi, tức là đã 14, 15 tuổi nhất là các ban nữ thì đã ngấp nghé tuổi dậy thì, có những bạn đã chớm bước vào thứ tình cảm khác lạ giữa nam giới và nữ giới mà người ta thường gọi là TÌNH THƠ , những mối tình tuổi còn thơ. Lúc bấy giờ chung tôi cũng chỉ nghe biết phong phanh, vài năm sau thì mới nghe nói đến nhưng cặp đôi H-M , L-T rồi N-H ... cố nhiên là đều do ghán ghép mà thành và cũng chẳng biết thật hư đến đâu, nhưng câu chuyện về những mối tình thơ ấy vẫn còn lại mãi với thời gian, rất thi vị và khó quên trong đời.
Nhưng mối TÌNH THƠ xuất hiện khá phổ biến trong đời sống học đường, có nét gì đó rất nên thơ bởi vậy đã gợi cảm xúc cho các nhà thơ và sau đó là các nhạc sỹ để họ ghi lại nhưng câu chuyện tình đó bằng những lời thơ và giai điệu mượt mà , lay đông mọi con tim của giới trẻ.
Nói đến tình bạn học đường là chúng ta nhớ ngay đến một không gian thân ái, gần gũi, nhưng hàng cây xanh, những hành lang nơi học sinh ủa ra sau giơ tan hoc, và sân trường với nhưng hàng cây phượng đỏ rực rỡ mỗi khi hè về. Và chung ta không quên được những cảnh tượng này :
" Hàng ghế đá xanh hàng cây góc sân trường
Hành lang ấy xa dần xa bước chân người
Bạn thân hỡi ta khắc ghi trong lòng
Những ước mơ hồng ngày tháng chờ mong .."(1)
Trong khung cảnh ấy, ở những lớp cuối cảnh tượng chia tay nhau sau hơn 10 năm chung một lớp học diễn ra thật lưu luyến, thật cảm động :
" Giòng lưu bút chưa kịp ghi đã vội nhòe
Nhành hoa thắm chưa kịp trao tay một lần
Kỷ niệm nhớ mãi trong chiều mưa tan trường
Hai đứa chung đường sao nghe vấn vương. "
Thật khó quên giờ phút phải chia tay nhau, hồi ở trương Quế Lâm cũng vậy, chắc chắn là mấy bạn lớn trong lớp sẽ còn nhớ mãi những kỷ niệm , những tình cảm tư nhiên , có chút gì đó thơ ngây trong trắng với bạn gái, dù khó có thể gọi được đó la tình yêu .
" Bao yêu thương trong ta tìm về
một thoáng trường xưa đã nghe thời gian thoi đưa
Nghe bâng khuâng trong lòng
tìm bóng dáng bạn xưa chẳng còn đâu nữa.."
Thời gian trôi đi như gió thoảng, như thoi đưa , đến hôm nay nhớ lại cảnh tương chia tay đó, chắc không phải là không có bạn lặng lẽ bước trên con đường quen thuộc khi về thăm lại mái trường năm xưa, trong lòng vẫn :
" ....miên man bồi hồi
nhặt lá vàng mơ khi xưa một mối TÌNH THƠ. "
Những mối TÌNH THƠ ấy thật là đẹp, thật đáng trân trọng và chắc sẽ còn đọng lại mãi trong ký ức mỗi chúng ta, phải vậy chăng ?
Công Lý
Một ngày cuối hạ (16/8/2013)
.
--------------------------------------------------------------------- (1) : trích dẫn lời bài hát "Tình thơ "
Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013
ĐẾN VỚI VẦN THƠ CỦA BẠN
Những lúc buồn rảnh rỗi tôi hay vào mạng đọc thơ của những người bạn một thời Quế Lâm, những vần thơ rất hay, rất tâm đắc, ngẫm nghĩ giây lát rồi bình vài câu vào đó, dù chỉ là những khoảnh khắc ngẫu hứng thoáng qua nhưng đôi khi cảm xúc lắng đọng, những câu thơ vụn vặt ấy hẳn là sẽ còn theo tôi đi mãi với thời gian :
Vào Bloc của Calathau, một hôm tôi đoc được mấy câu thơ anh viết và đề tặng Kong Lý :
Lãng đãng mây trời lãng đãng đêm
Phố núi trăng suông rót bên thềm
Cây nghiêng nghiêng bóng che môi khuất
Ta kẻ lạc vào con dốc em
Tôi đã viết và gửi cho anh :
Cứ để thông reo giữa đại ngàn
Cứ để mây trôi lãng đãng đêm
Cho nỗi vui đời dâng cao mãi
Khi đã lạc vào cõi mộng em.
Dịp cuối năm ngoái khi tôi vào miền nam thăm bạn bè trong đó, ngồi với nhau ở quán cà phê "Bản Sonata ", Hồng Quang đọc cho tôi nghe mấy câu thơ ngẫu hứng :
Đêm nay sao thật là dài
Người đi để một tôi hoài nhớ em
Rượu nồng có ngấm hơi men
Tỉnh say có lụy lời khen ngọt ngào
Một trời đêm vắng trăng sao
Đò ngang một lá cắm sào đợi ai.
Ra về đêm ấy tôi nằm thao thức, bất chợt nảy ra vài ý thơ. Hôm sau tôi gửi lại Hồng Quang :
Đêm nay trăng lặn mờ sương
Người đi đi mãi dặm trường xa xôi
Để tôi chỉ một mình thôi
Rượu nồng nhấp chén lòng chơi vơi buồn
Một trời đêm vắng mênh mông
Một hồn thơ giữa hư không mơ màng./.
Mùa hạ sắp qua, những cơn gió đầu thu đã thổi về , lại nhớ những vần thơ vè mùa thu năm ngoái Hồng Quang đã viết và gợi cảm hứng cho tôi :
Thu về thay áo cho cây
Thoa son cho lá, chải mây cho trời
Thu về từng hạt nắng rơi
Cho người lặng lẽ nhặt phơi trước thềm
Bài thơ anh dệt tặng em
Dọc ngang lục bát sợi mềm như tơ.
Đáp lại tôi cũng chợt nảy ra vài câu :
Ngày thu một thoáng heo may
Nghe thời gian đọng chiều say nắng vàng
Se se gió gọi mùa sang
Bâng khuâng nỗi nhớ ngập tràn hồn ta.
Mây trôi một dáng la đà
Miên man ký ức nhạt nhòa khói sương.
Mấy hôm nay trời cư đổ mưa hoài, những hạt mưa rơi rơi như gợi nỗi buồn trong lòng tôi, giờ khắc này sao tôi thấy thời gian trôi đi nhanh thế, nghĩ tới người bạn ở phương trời nam vô tình lại nhớ mấy câu thơ bạn đã gửi tặng :
Thời gian cứ lặng lẽ trôi
Bao nhiêu kỷ niệm cũng rồi nhạt phai
Người đi góc bể chân mây
"Nghiêng nghiêng lầu vắng trăng gày riêng soi"
Hoa vàng một đóa phai phôi
Ban mai lại đã tinh khôi nụ hồng.
Mấy câu thơ của anh gợi cho tôi nhiều suy tư. Sáng ra trời vẫn mưa, tôi ngồi bên thềm nhà nâng ly cà phê tự mình pha , lòng rộn lên những tâm tư muốn chia sẻ cùng anh :
Cà phê từng giọt rơi rơi
Thời gian từng giọt dòng đời êm trôi
Bao nhiêu trải nghiệm qua rồi
Thấy mong manh một kiếp người gian nan.
Trước thềm mưa gọi thu sang
Ly cà phê gợi miên man nỗi buồn./.
Thời gian như một dòng sông cứ lặng lẽ trôi, tôi vẫn đang bồng bênh trôi trong dòng chảy thời gian ấy :
Quỹ thời gian chẳng còn dài
Cứ thanh thản sống, cứ miệt mài vui
Bao gìơ từ biệt cuộc chơi
Thì xin làm áng mây trôi giữa trời.
Công Lý
Hà Nội một ngày mưa tầm tã.
(3/8 /2013)
Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013
VƯỜN XƯA TA VỀ
ĐƯA BẠN LÊN VƯỜN GIẢI KHUÂY
Hai chúng tôi cùng chào đời vào năm 1941, cùng cầm tinh con Rắn, cùng có tên đệm là NHƯ, bạn là NHƯ THANH còn tôi là NHƯ LÝ. Chúng tôi kết bạn với nhau tư thuở còn để chỏm, đèn sách với nhau bên dòng sông LY trong xanh thuộc thành phố Quế Lâm của nước bạn Trung Hoa. Bạn và gia đình hiện sinh sông tại đất nước Công Hòa SÉC bên trời Âu xa xôi, tôi sông ở Hà Nội và từ ngày hết việc về nghỉ đã kiếm được mảnh vườn làm nơi hò hẹn bạn bè thi thoảng gặp nhau chén chú chén anh. Bạn vưa trải qua nỗi buồn vô hạn, đưa tiễn người bạn đời về cõi xa xăm , nén nỗi đau nghìn trùng đưa tro cốt người vợ thân yêu về với quê cha đất tổ. Chúng tôi gặp lại nhau tại Ha Nội sau mấy chục năm xa cách. Tôi lỡ hẹn không đi được cùng bạn về quê trên Phú Thọ nên ngỏ ý mời bạn lên vườn nhà tôi ở chơi một hôm cho khuây khỏa nỗi buồn, Như Thanh đã nhận lời thu xếp thời gian đến với hai vợ chồng tôi. Tôi cũng muốn rủ thêm vài người bạn cố tri cung hội, cung lớp lên chơi cho vui, ngặt một nỗi cơn mưa hạ tầm tã đổ về bất chợt khiến dự định ban đầu không thành hiện thực . May sao sáng sớm ngày 23 thang7, Tôi, Như Thanh và Kim Lân vẫn vượt qua trận mưa ấy để "vườn xưa ta về". Cuộc hội ngộ của 3 chung tôi không có gì đặc biệt nhưng diễn ra trong một hoàn cảnh rất ấn tượng . Sau cơn mưa cây vườn nhà tôi như xanh hơn ,đậm chất thôn dã hơn.
Chúng tôi ngồi quây quàn bên nhau dưới mái nhà sàn, trò chuyện thân tình. Ngớt mưa tôi đưa Thanh đi loanh quanh thăm vườn cây ao cá. Thanh nói với tôi " ở bên SEC khó tìm được mảnh đất rộng thế này làm vườn, vườn của vơ chồng cậu khá rộng và đẹp ". Anh bạn LÂN SỀU ( hồi học với nhau hay gọi như thế ) đã lên đây mấy lần thì tỏ ra rất thích thú,nói vui "thế này mới là học tập thiết thực đạo đức tác phong của Bác Hồ chứ, cũng nhà sàn , ao cá như của Bác đấy thôi, dễ mấy người làm được ". Tôi chỉ im lặng chẳng biết nói gì trong khi bà xã lam vài món quê để tôi thết đãi hai bạn. Bữa cơm giản dị, bánh đúc, đậu phụ chấm tương, rau xanh sạch hái ngoài vườn, cá nuôi dưới ao..chỉ có vậy và thêm chén rươu quê chủ nhà tự chế, nhưng có lẽ cái vị hương quê và tình bằng hữu từ thuở ấu thơ đẫ gắn kết chúng tôi và đem đến cho chung tôi nhưng khoảnh khắc vô cung gần gũi va đầm ấm.
Sau bữa cơm đạm bạc, chung tôi cùng ngồi uông với nhau chén trà xanh và thưởng thức hương vị của cây trái vườn nhà, quả ổi vàng ,quả táo xanh và nhưng múi mít thơm ngon.
Tiễn hai bạn ra về trong đầu tôi chợt nảy ra vài ý, vội vàng ghi lại, thôi thì cứ tạm gọi là thơ hay gì đó cũng được :
Ngày mưa bạn ghé thăm vườn
Chồi xanh lộc biếc ven đường đày hoa
Trà xanh, táo ngọt bưng ra
Rượu quê nâng chén ngâm nga sự đời
Bạn từ đất khách xa xôi
Hôm nay về với vườn tôi một lần
Buồn vui lòng thấy lâng lâng
Tình xưa bạn cũ bâng khâng dạt dào.
Công Lý
23/7/2013
Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013
KỶ NIỆM TRƯỜNG SA
KHÔNG XA ĐÂU, TRƯỜNG SA ƠI !
Cháu : Tuổi già là thế nào hả ông?
Ông : Là khi những kỷ niệm thay thế cho tương lai cháu ạ.
Khi cháu tôi hỏi, tôi đã trả lời như vậy. Những năm tháng đã qua của cuộc đời bốn mươi năm theo nghiệp Ngoại giao đã để lại trong ký ức tôi rất nhiều kỷ niệm. Một kỷ niêm không bao giờ phai nhạt đó là chuyến đi của tôi đến một miền đất thân yêu của tổ quốc, một quần đảo xa ngoài biển đông , Quần đảo Trường Sa. Mùa hè năm 1987, trong chuyến đi công tác ra quần đảo Trường Sa của Phó Thủ tướng Trần Đức Lương (người lãnh đạo cao nhất của ta ra thăm Trường sa khi đó ), Bộ Ngoại giao được cử 2 cán bô tháp tùng, may mắn thay tôi là một trong số đó.
Trường Sa cách đất liền khá xa, nhưng trong tâm khảm tôi và bao người con đất Việt khác thì TRƯỜNG SA và cả HOÀNG SA nữa không hề xa và luôn gần gũi, ai cũng ước ao được một lần đến thăm Trường Sa sống với các chiến sỹ ở đó dù chỉ là một ngày, thậm chí một giở thôi, và ước mơ ấy của tôi đã thành sự thật.
" Thương nhớ sao người chiến sy Trường Sa
Không xa đâu ,Trường Sa ơi !
Không xa đâu, Trường Sa ơi ! "
![]() |
| Tác giả chụp ở Trường Sa |
Từ Cam Ranh chúng tôi lên một tàu vận tải của hải quân ta vượt biển khơi để ra đảo. Thế là bắt đầu những ngày lênh đênh trên biển khơi. Tôi cứ nghĩ chắc chuyến đi trên biển này sẽ vất vả và buồn tẻ lắm đây, nhưng thực tế là vất vả thì có, nhưng không buồn tẻ, bởi vì sát lúc lên đường, PTT đã đồng ý cho một nhóm văn công thuộc đoàn ca múa không quân của quân đôi cùng đi để biểu diễn phục vụ các chiến sỹ ngoài đảo khơi. Tôi nói đùa với anh bạn là chuyên viên của vụ luật pháp đồng hành cùng tôi : " số chúng mình hơi bị hên đấy ". Câu chuyện diễn ra trong mấy ngày lênh đênh vật lộn với sóng dữ bên cạnh mấy cô văn công trên con tàu ấy khá thú vị tôi sẽ kể sau, giờ hãy nói đên chuyện lên đảo trước đã.
| Ngồi trên ụ pháo xe tăng ở đảo Trường sa lớn |
Mưa đi mưa đi mưa cho mãnh liệt
Mua lèm nhèm chung tôi chẳng thích đâu
Không mưa rào thì hãy cứ mưa ngâu
Hay mưa bụi, mưa li ti cung được
Mặt chung tôi ngẩng lên hứng nước
Một giọt thôi cát cũng dịu đi nhiều
Ôi đảo Sinh Tồn ,hòn đảo thân yêu."
| Ngọn hải đăng trên đảo Song Tử Tây |
Mấy ngày hội ngộ rồi cũng qua nhanh, các chiến sỹ đưa tiễn chúng tôi lên các con thuyền nhỏ, họ bám theo, bơi theo cho tới khi chng tôi lên con tàu lớn để đi tiếp về phía khu nhà sàn DK1.
Chia tay các chiến sỹ hải quân lòng tôi thật bùi ngùi, chỉ mấy ngày đêm ngắn ngủi tôi đã được tận mắt chứng kiến sự chịu đựng thiếu thốn, gian khổ của các chiến sỹ hải quân nơi đầu sóng ngọn gió để giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quóc thân yêu, tôi càng thấm thía , chia sẻ với những niềm thương nỗi nhớ của bao gia đình khi họ phải xa con em họ, những người lính đang làm nghĩa vụ bảo vệ biển đảo của Quê hương.
Đến hôm nay tôi vẫn còn ghi nhớ mãi chuyến đi có một không hai đó trong đời mình , chuyến đi đến đảo quê hương đã để lại trong tôi những kỷ niệm không bao giờ nhạt phai :
Trường Sa một lần tôi đến
Mênh mông biển mặn thầm thì
Người lính ngày đêm giữ đảo
Giữ biển sóng lặng bình yên
Đêm Trường Sa nằm nghe câu hát
Biển đày sao , sóng vỗ rì rào
Đêm Trường sa, biển trời xanh ngát
Thấy bóng quê nhà trong tiếng hát em.
Trên tàu trở về đất liền, tôi và Thanh Hiền trở nên quen thân, chúng tôi hàn huyên đủ mọi chuyện, hóa ra Hiền cũng là dân Hà Nội gốc. Cảm giác của tôi khi đó thật khó diễn tả. Tôi sẽ chẳng thể nào quên được khoảnh khắc " Biển một bên và Em một bên " như nhà thơ nào đó đã diễn tả. Về tới Vũng tàu, chúng tôi rủ nhau cùng đi uống cà phê. Khi chia tay ra bắc, cô ca sỹ ấy còn hẹn sẽ gặp nhau ở Ha nôi, và hứa là sẽ đón tôi đến chơi nhà cô ở con phố cổ của Hà Nôi.
Thế rồi, một tuần sau khi về Hà Nội :
Tôi về phố cũ tìm em
Vô duyên chỉ gặp bóng đêm hững hờ
Chắc em còn mải giấc mơ
Bỏ tôi lạc lối bơ vơ một mình.
Nhưng tôi tin là vào lúc đó ca sỹ Thanh Hiền đang có mặt ở biên giới phia bắc để đến với các chiến sỹ thân yêu.
Công Lý 16 tháng 7 năm 2013
Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013
THƠ ĐƯA VÀO SÁCH
CHÙM THƠ VIẾT VỀ CUỘC ĐỜI
Bài 1
VỊNH HOA CÚC
( Biểu tượng của THẠCH QUÂN)
Cúc vàng hai đóa xinh xinh
Thêu trên màu biếc bóng mình bóng ta
Cầm tay suốt chặng đường xa
Rưng rưng giọt lệ khóc nhòa hoàng hôn.
( Quang Trung đề tặng )
Bảy mươi năm thọ trần gian
Vẫn màu hoa ấy có tàn đâu em
Tuổi già xanh, một trái tim
Bảy mươi xuân vẫn có mình có ta.
( Công Lý tiếp vần) 16/10/2011
Bài 2 NỖI NHỚ
Ngày thu một thoáng heo may
Nghe thời gian đọng chiều say nắng vàng
Se se gió gọi mùa sang
Miên man nỗi nhớ ngập tràn hồn ta
Ngỡ như người đã đi xa
Bóng hình kia đã nhạt nhòa khói sương
Đâu hay còn mãi nhớ thương
Đâu hay còn mãi vấn vương một đời
Thu đi lá có còn rơi
Chiều tàn nắng úa ta ngồi nhớ ai ?
ĐÊM NAY
Đêm nay trăng lặn mờ sương
Người đi đi mãi dặm trường xa xôi
Cô đơn chỉ một mình tôi
Rượu nồng nhấp chén lòng chơi vơi buồn
Một trời đêm vắng mênh mông
Một hồn thơ giữa hư không mơ màng.
Thang 10/ 2012
Bài 3 BỖNG DƯNG
Đôi khi buồn đến tái tê
Bỗng dưng lại muốn trôi về tuổi thơ
Đôi khi vui đến bất ngờ
Bỗng dưng nhớ buổi hẹn hò hôm nao
Đôi khi lòng thấy xôn xao
Bỗng dưng lại nhớ chiều nào vắng em
Đôi khi trò chuyện cùng đêm
Bỗng dưng nghe nặng nỗi niềm đày vơi
Đôi khi nghe một tiếng cười
Bỗng dưng lòng chợt bùi ngùi xót xa.
Mùa đông 2012
Bài 4 NGẪU HỨNG SÔNG CẦU
(Họa thơ Hồng Quang)
Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Con sông như thực như mơ bồng bềnh
Êm trôi dòng nước lung linh
Nghe câu quan họ nghĩa tình thiết tha
Sông Cầu vẫn chảy về xa
Người ơi, người ở cùng ta đừng về
Bồn chồn dạo bước đường quê
Bóng tre xanh mát trưa hè nao nao
Bến đò xưa khúc sông sâu
Nào ai có đợi ai đâu, hỡi người./
Bên Sông Cầu, tháng 10/2011
Xin tùy ban Biên tập lựa chọn.
Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013
TỰ CHUYỆN
(Bài đăng vào sách của lớp)
TIA CHỚP CỦA SỐ PHẬN
Tôi sinh ngay 16 tháng 10 năm 1941 tai một nhà hộ sinh trên con phố Quán Sứ của Ha Nội. Cha Mẹ tôi đều là người gốc Huế. Năm 1933 cha tôi Hoàng Như Tiếp tốt nghiệp khóa đầu tiên tại khoa Kiến trúc của trương Mỹ thuật Đông dương, ông đưa gia đình ra Ha nôi sinh sống. Ra trường ông mở xưởng vẽ tư nhân cộng tác với KTS Nguyễn cao Luyện và họa sỹ Tô ngọc Vân. cuộc sống của gia đình tôi lúc đó rất khá giả, tôi được một vú em chăm sóc. Năm 1946, khi tôi lên 5 tuổi thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, là một trí thức nhưng cha tôi đã nghe theo lời Bác gọi đưa cả gia đinh ra kháng chiến. Gia đình tôi định cư ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Những năm từ 1947 tới 1952 tôi sống cùng Mẹ, chi, em gái tại đó, tôi phụ giúp mẹ tăng gia, cuốc đất trồng khoai, cuộc sống tuy vất vả nhưng cũng tạm đủ ăn. Tôi vẫn được cắp sách tới trừơng làng, học đến hết lớp 4. Bố tôi làm việc tại An toàn khu ( ATK ), chính ông là người đã thiết kế khu hội trường và nhà ở cho các đại biểu cả nước về dự Đai hội Đảng toàn quốc lần thư 2 tai Việt Bắc, công trình này được Bác Hồ giao phó, khi hoàn thành Bác đã rất ngợi khen và Cha tôi được đặc cách mời tham dự Đai hội .
Cuối năm 1953, một hôm bất ngờ cha tôi ghé về thăm nhà và nói với Mẹ tôi là Bác Hồ và Trung ương đảng chọn một số con em cán bộ cách mang và trí thức theo Kháng chiên gửi sang bên TQ để hoc tập sau này làm việc cho đất nước khi kháng chiến thắng lợi. Cha tôi muốn cho người chị gái hơn tôi một tuổi đi, nhưng cả mẹ và chị đều không muốn con gái phải xa mẹ, thế là tôi được chọn thay. Một tuần sau đó một chú cán bô tên là Lễ đưa xe đạp đến đèo tôi lên khu ATK. Khi chia tay Mẹ chị và 2 em tôi đã buồn đến rơi nước mắt và không muốn xa gia đình. Tôi theo chú ghé qua khu ATK nhưng không gặp cha tôi, ở đó một ngày rồi hai chú cháu lên đường qua Thái Nguyên lên Lạng Sơn. Đường đi đày khó khăn trắc trở, chú Lễ thật vất vả còn tôi thì ngồi ê cả mông, cuối cùng cũng đến được trạm liên lạc ở ngay sát biên giơi . Tôi ở đó vài hôm rồi cùng một nhóm các ban khác đi bộ qua biên giới Muc Nam quan rôi lên xe ô tô đi tiếp. Khi qua biên giới tôi cũng không biết, lúc đó chỉ nhặt được vỏ bao thuốc lá "Đại Tiền môn" thi biết là đã sang đất Trung Quôc. Từ Bằng Tường tôi lên xe ô tô mui bịt kín lên Nam Ninh rồi đi xe lửa lên Quế Lâm. Tới ga Quế Lâm bọn tôi lại phải chui vào xa tải GMC bịt kín chạy về trường rồi sau đó thế nào tôi không con nhớ nữa, chỉ thấy mệt và buồn. Lúc tôi đến trường thì đã có nhiều bạn rồi không biết là các bạn đó mới tư trong nước sang Quế Lâm hay là từ Lư Sơn chuyển về. Tôi được phân vào lớp 5 A, khi chụp ảnh 3 người, tôi đứng giữa, hai bên là bạn Hông Sỹ và Tiến Nguyên (Bức ảnh này đã bị thất lạc khi tôi đi sơ tán trong thời gian Mỹ ném bom Hà Nội ),thật đang buồn là 2 người bạn đó có rất nhiều kỷ niêm với tôi lại đều đã vội vàng ra đi. Ở trường Quế Lâm tôi thuôc loại trò ngoan, không nghịch ngợm, tính hơi nhát và ngô nghê chẳng biết gi ngoài chuyện học hành. Tôi cũng như nhiều bạn nam rất thích ra chơi và tắm ở sông Ly, nước sông rất xanh, thi thoảng lại thấy một chiếc thuyền lướt nhẹ ,trên thuyền có những chú chim sếu chuyên mổ bắt cá cho chủ thuyền . Đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi cái món cháo trắng ăn với calathau mỗi buổi sáng, hễ có dịp đến Trung Quốc là tôi lại mua một ít calathau đem về ăn và gửi tặng các bạn cùng lớp thời Quế lâm. Kỷ niệm tôi còn nhớ mãi đó là buổi đưa tiễn cô Quế về Nam Ninh tại nhà ga Quế lâm, kỉ niệm đó tôi đã ghi lại trong bài viết về cô giáo thân yêu của lớp 5 chúng mình. Những tháng năm đó để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời mỗi chúng ta sau này. Tôi coi đó như là một "tia chớp của số phận" mình vậy, chuỗi ngày tháng của tuổi thơ ấy là những bước đi chập chững đầu đời tạo nên tính cách con người tôi trong suốt cuộc đời sau này.
Sau khi trở về nước năm 1957 , tôi và nhiều bạn khác theo học cấp ba tại trường Chu văn An . Sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, năm 1961 tôi theo học lớp tiếng trung ở trường ngoại ngữ Gia Lâm, tháng 9 năm 1961 thì sang học tại khoa ngữ văn trương Đại học Bắc Kinh Trung Quốc, cùng học với Ngọc Trâm. Học với nhau một thời gian thì bạn Trâm bị ốm phải trở vè nước, ngày bạn ấy chia tay chúng tôi còn mang hoa đến tặng. Sau 5 năm dùi mài sách vở, học chuyên về hán ngữ và văn học Trung Quốc tôi cứ đinh ninh sẽ về công tác ở viện ngôn ngư chỗ ban Trâm, nhưng không ngờ tháng 11 năm 1966 tôi được Đại Sứ Trần Tử Bình chọn làm phiên dịch cho Sứ quán . Thế là tôi trở thành nhân viên Ngoại giao và bắt đầu cuộc đời đi sứ liên miên, làm cán bộ phiên dịch rồi chuyến sang cán bộ nghiên cứu. Năm 1992 tôi được đề bạt làm Vụ trưởng vụ Trung Quốc của Bộ Ngoại giao, sau đổi thành Vụ Đông Bắc Á . Tôi giữ chức vụ này suốt chục năm sau đó cho tới khi nghỉ hưu năm 2007. Trong 40 năm làm nghề ngoai giao tôi đã 3 lần đi sứ Bắc kinh , làm Tùy viên, rồi Bí thứ 3 , lân sau cùng ở TQ là Tham tán Công sứ (1988-1990 ). Năm 1996 tôi được Nhà nước cử làm Đại Sư Đặc mệnh toàn quyền tai Malaysia trong 4 năm, đến năm 2003 khi làm Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á thì tôi lại được cử sang Đài Loan làm Chủ nhiệm văn phòng Kinh tế Văn hóa của VN ở Đài bắc . Năm 1971 tôi lập gia đình, điều hơi bất ngờ là Vợ tôi Nguyễn Hồng Liên lại có anh trai là Nguyễn Ngọc Tiến học trò lớp 3A Quế Lâm, Anh đã hy sinh cùng mấy người bạn nữa đều là học trò Quế Lâm khối 3, khi đó Anh là phi công lái máy bay trực thăng tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ trên bàu trời Hà Nôi năm 1967.
Hơn 40 năm theo nghiệp Ngoại giao, tôi gần như tập trung toàn bộ sinh lực vào công việc theo dõi, nghiên cứu về đất nước Trung Quôc - người láng giềng khổng lồ ở phía bắc, đất nước mà thuở ấu thơ tôi đã từng sống, ăn học lớn lên rồi làm việc nhiều năm tai đó, tôi cũng là người trực tiếp tham gia vào việc xử lý mối quan hệ VIETNAM-TRUNG HOA đày thăng trầm.Tôi đã dến với nhiều nước trên thế giơi tư Âu sang Á, từ Nga đên Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam á, nhưng Trung Quốc vẫn là nơi tôi có nhiều duyên nợ nhất. Tôi đã sống ở đó trong những thời kỳ quan hệ hai nước tốt đẹp nhất, cảm nhận rõ tấm lòng hào hiệp của người dân Trung Quốc mặc dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành một phân cơm áo chi viện cho cuộc chiến chông Mỹ giành độc lập thống nhất của nhân dân Việt nam, tôi cũng tận mắt chứng kiến những phong ba bão táp của cuộc "cách mạnh văn hóa" cướp đi sinh mang hai chục triệu người dân, cuộc đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên An môn năm 1989, và đã trải qua những tháng ngày căng thẳng khi chính người "đồng chí anh em " này đã đưa 60 vạn quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phia bắc của Việt nam tháng 2/1979.
Cuộc đời tôi đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm. Có lúc tôi được ngồi trên ghế cao bên cạnh nhà Vua của nước láng giềng Malaysia khi được Chủ tịch nước trao cho danh hiệu cao quý là Đai sứ, người đại diện tối cao của nhà nước Việt Nam , có khi lại đầu tắt mặt tối cùng những đồng nghiệp miệt mài dich bản tuyên bố của Chính Phủ ta lên án Bành trướng phương bắc đem quuân xâm lấn Việt Nam. Cũng có nhiều dịp tôi được rong chơi thăm thú những thắng cảnh lừng danh cua Paris ,Tokio , Washington nhưng cũng có những đêm dài tôi trằn trọc, âm thầm buồn bã trước nối đau của một cô dâu người Việt bị ngược đãi trên hòn đảo Đài loan khi tôi là người Đại diện của Việt Nam tại đó.
Nhưng trải qua tất cả những thăng trầm, những đảo lộn khó lường trước được đó, tôi vẫn bình thản để đến với tuổi già. Nghỉ hưu rồi, như các cụ xưa vẫn nói : "Vô quan nhất thân khinh " (Không còn quan chức, một đời nhẹ tênh).Sau những ngày tháng cần mẫn làm việc, nay đã đến lúc " Giải giáp quy điền", tôi luôn cảm nhận đước sự thanh thản, và có đôi chút "mãn nguyện" vì mình đã không làm điều gì hổ thẹn với tổ quốc, với nhân dân . Nay trở về với cuộc sông bình dị tôi cảm thấy thật an lòng. Người xưa đã nói : " Nhân đáo vô cầu, phẩm tự cao " (con người khi đã tới lúc không còn đòi hỏi gì nữa thì phẩm hạnh sẽ trở nên thanh cao ) quả đúng không sai.
Trong cuộc sống, điều đáng sợ nhất không phải là sợ bị mất của cải, tiền bạc, chức tước mà chính là sợ bị mất lòng tin ở cuộc sống, ở vào tuổi "cổ lai hy" điều này càng có ý nghĩ hơn. Cũng như các bạn khác, vào tuổi già rồi tôi luôn yêu quý trân trọng cuộc sống hơn, không phải bởi quỹ thời gian mỗi ngày một ít đi mà bởi chính là niềm tin với cuộc sống .
Như người đời thường nói :
Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
Đó cũng chính là tâm nguyện của tôi.
Trong những ký ức về cuộc đời mình, tôi luôn nhớ về một thời thơ ấu, nhớ về mái trường thiếu nhi Quế Lâm. Đó là những ngày tháng đẹp ,trong sáng của tuổi thơ, của tình bạn thắm đẵm nhưng tình cảm thân thiết vô tư. Bây giờ mỗi khi nghĩ về nhưng kỉ niệm đó , nhớ về mái trường xưa ấy tôi như thấy ở đâu đó :
Những hình bóng bạn bè thuở ấy
Sao không bao giờ nhạt phai?
Tình bạn thân thiết hồn nhiên ấy theo chúng tôi đi suốt những năm tháng của cuộc đời, làm sao lại nhạt phai được chứ , sẽ chẳng bao giờ nhạt phai đâu.
Thời gian cứ lặng lẽ qua đi , tôi như đang bồng bềnh trôi trong khúc cuối của dòng sông cuộc đời . Giờ đây trong cuộc sống bình thản này :
" Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
cùng với anh em tìm đến mọi người.."
Tôi sẽ mãi như thế và cùng với các bạn một thời Quế lâm của mình, chúng tôi sẽ sát cánh bên nhau, cùng nhau hát ca để luôn thấy :
".. Tiếng cười rộn rã bay ".
Công Lý tháng 6 năm 2013
VỀ THĂM MÁI TRƯỜNG XƯA
Về thăm trường cũ không em
Dòng sông Ly vẫn êm đềm trôi xuôi.?
Quế Lâm ngày ấy đâu rồi
Còn trong ký ức một thời khó phai
Đi tìm ai, có thấy ai
Những bè bạn tháng năm dài bên nhau
Vẫn màu hoa thắm Trúc đào
Vẫn tình bằng hữu thuở nào ấu thơ
Dòng đời trôi, một giấc mơ
Mái trường xưa giục lời thơ tuôn trào.
Trở về với nỗi ước ao
Quế Lâm trường cũ ấm sao tình người.
Công Lý 25 tháng 8 năm 2010
(Bài đăng vào sách của lớp)
TIA CHỚP CỦA SỐ PHẬN
Tôi sinh ngay 16 tháng 10 năm 1941 tai một nhà hộ sinh trên con phố Quán Sứ của Ha Nội. Cha Mẹ tôi đều là người gốc Huế. Năm 1933 cha tôi Hoàng Như Tiếp tốt nghiệp khóa đầu tiên tại khoa Kiến trúc của trương Mỹ thuật Đông dương, ông đưa gia đình ra Ha nôi sinh sống. Ra trường ông mở xưởng vẽ tư nhân cộng tác với KTS Nguyễn cao Luyện và họa sỹ Tô ngọc Vân. cuộc sống của gia đình tôi lúc đó rất khá giả, tôi được một vú em chăm sóc. Năm 1946, khi tôi lên 5 tuổi thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, là một trí thức nhưng cha tôi đã nghe theo lời Bác gọi đưa cả gia đinh ra kháng chiến. Gia đình tôi định cư ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Những năm từ 1947 tới 1952 tôi sống cùng Mẹ, chi, em gái tại đó, tôi phụ giúp mẹ tăng gia, cuốc đất trồng khoai, cuộc sống tuy vất vả nhưng cũng tạm đủ ăn. Tôi vẫn được cắp sách tới trừơng làng, học đến hết lớp 4. Bố tôi làm việc tại An toàn khu ( ATK ), chính ông là người đã thiết kế khu hội trường và nhà ở cho các đại biểu cả nước về dự Đai hội Đảng toàn quốc lần thư 2 tai Việt Bắc, công trình này được Bác Hồ giao phó, khi hoàn thành Bác đã rất ngợi khen và Cha tôi được đặc cách mời tham dự Đai hội .
Cuối năm 1953, một hôm bất ngờ cha tôi ghé về thăm nhà và nói với Mẹ tôi là Bác Hồ và Trung ương đảng chọn một số con em cán bộ cách mang và trí thức theo Kháng chiên gửi sang bên TQ để hoc tập sau này làm việc cho đất nước khi kháng chiến thắng lợi. Cha tôi muốn cho người chị gái hơn tôi một tuổi đi, nhưng cả mẹ và chị đều không muốn con gái phải xa mẹ, thế là tôi được chọn thay. Một tuần sau đó một chú cán bô tên là Lễ đưa xe đạp đến đèo tôi lên khu ATK. Khi chia tay Mẹ chị và 2 em tôi đã buồn đến rơi nước mắt và không muốn xa gia đình. Tôi theo chú ghé qua khu ATK nhưng không gặp cha tôi, ở đó một ngày rồi hai chú cháu lên đường qua Thái Nguyên lên Lạng Sơn. Đường đi đày khó khăn trắc trở, chú Lễ thật vất vả còn tôi thì ngồi ê cả mông, cuối cùng cũng đến được trạm liên lạc ở ngay sát biên giơi . Tôi ở đó vài hôm rồi cùng một nhóm các ban khác đi bộ qua biên giới Muc Nam quan rôi lên xe ô tô đi tiếp. Khi qua biên giới tôi cũng không biết, lúc đó chỉ nhặt được vỏ bao thuốc lá "Đại Tiền môn" thi biết là đã sang đất Trung Quôc. Từ Bằng Tường tôi lên xe ô tô mui bịt kín lên Nam Ninh rồi đi xe lửa lên Quế Lâm. Tới ga Quế Lâm bọn tôi lại phải chui vào xa tải GMC bịt kín chạy về trường rồi sau đó thế nào tôi không con nhớ nữa, chỉ thấy mệt và buồn. Lúc tôi đến trường thì đã có nhiều bạn rồi không biết là các bạn đó mới tư trong nước sang Quế Lâm hay là từ Lư Sơn chuyển về. Tôi được phân vào lớp 5 A, khi chụp ảnh 3 người, tôi đứng giữa, hai bên là bạn Hông Sỹ và Tiến Nguyên (Bức ảnh này đã bị thất lạc khi tôi đi sơ tán trong thời gian Mỹ ném bom Hà Nội ),thật đang buồn là 2 người bạn đó có rất nhiều kỷ niêm với tôi lại đều đã vội vàng ra đi. Ở trường Quế Lâm tôi thuôc loại trò ngoan, không nghịch ngợm, tính hơi nhát và ngô nghê chẳng biết gi ngoài chuyện học hành. Tôi cũng như nhiều bạn nam rất thích ra chơi và tắm ở sông Ly, nước sông rất xanh, thi thoảng lại thấy một chiếc thuyền lướt nhẹ ,trên thuyền có những chú chim sếu chuyên mổ bắt cá cho chủ thuyền . Đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi cái món cháo trắng ăn với calathau mỗi buổi sáng, hễ có dịp đến Trung Quốc là tôi lại mua một ít calathau đem về ăn và gửi tặng các bạn cùng lớp thời Quế lâm. Kỷ niệm tôi còn nhớ mãi đó là buổi đưa tiễn cô Quế về Nam Ninh tại nhà ga Quế lâm, kỉ niệm đó tôi đã ghi lại trong bài viết về cô giáo thân yêu của lớp 5 chúng mình. Những tháng năm đó để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời mỗi chúng ta sau này. Tôi coi đó như là một "tia chớp của số phận" mình vậy, chuỗi ngày tháng của tuổi thơ ấy là những bước đi chập chững đầu đời tạo nên tính cách con người tôi trong suốt cuộc đời sau này.
Sau khi trở về nước năm 1957 , tôi và nhiều bạn khác theo học cấp ba tại trường Chu văn An . Sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, năm 1961 tôi theo học lớp tiếng trung ở trường ngoại ngữ Gia Lâm, tháng 9 năm 1961 thì sang học tại khoa ngữ văn trương Đại học Bắc Kinh Trung Quốc, cùng học với Ngọc Trâm. Học với nhau một thời gian thì bạn Trâm bị ốm phải trở vè nước, ngày bạn ấy chia tay chúng tôi còn mang hoa đến tặng. Sau 5 năm dùi mài sách vở, học chuyên về hán ngữ và văn học Trung Quốc tôi cứ đinh ninh sẽ về công tác ở viện ngôn ngư chỗ ban Trâm, nhưng không ngờ tháng 11 năm 1966 tôi được Đại Sứ Trần Tử Bình chọn làm phiên dịch cho Sứ quán . Thế là tôi trở thành nhân viên Ngoại giao và bắt đầu cuộc đời đi sứ liên miên, làm cán bộ phiên dịch rồi chuyến sang cán bộ nghiên cứu. Năm 1992 tôi được đề bạt làm Vụ trưởng vụ Trung Quốc của Bộ Ngoại giao, sau đổi thành Vụ Đông Bắc Á . Tôi giữ chức vụ này suốt chục năm sau đó cho tới khi nghỉ hưu năm 2007. Trong 40 năm làm nghề ngoai giao tôi đã 3 lần đi sứ Bắc kinh , làm Tùy viên, rồi Bí thứ 3 , lân sau cùng ở TQ là Tham tán Công sứ (1988-1990 ). Năm 1996 tôi được Nhà nước cử làm Đại Sư Đặc mệnh toàn quyền tai Malaysia trong 4 năm, đến năm 2003 khi làm Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á thì tôi lại được cử sang Đài Loan làm Chủ nhiệm văn phòng Kinh tế Văn hóa của VN ở Đài bắc . Năm 1971 tôi lập gia đình, điều hơi bất ngờ là Vợ tôi Nguyễn Hồng Liên lại có anh trai là Nguyễn Ngọc Tiến học trò lớp 3A Quế Lâm, Anh đã hy sinh cùng mấy người bạn nữa đều là học trò Quế Lâm khối 3, khi đó Anh là phi công lái máy bay trực thăng tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ trên bàu trời Hà Nôi năm 1967.
Hơn 40 năm theo nghiệp Ngoại giao, tôi gần như tập trung toàn bộ sinh lực vào công việc theo dõi, nghiên cứu về đất nước Trung Quôc - người láng giềng khổng lồ ở phía bắc, đất nước mà thuở ấu thơ tôi đã từng sống, ăn học lớn lên rồi làm việc nhiều năm tai đó, tôi cũng là người trực tiếp tham gia vào việc xử lý mối quan hệ VIETNAM-TRUNG HOA đày thăng trầm.Tôi đã dến với nhiều nước trên thế giơi tư Âu sang Á, từ Nga đên Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam á, nhưng Trung Quốc vẫn là nơi tôi có nhiều duyên nợ nhất. Tôi đã sống ở đó trong những thời kỳ quan hệ hai nước tốt đẹp nhất, cảm nhận rõ tấm lòng hào hiệp của người dân Trung Quốc mặc dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành một phân cơm áo chi viện cho cuộc chiến chông Mỹ giành độc lập thống nhất của nhân dân Việt nam, tôi cũng tận mắt chứng kiến những phong ba bão táp của cuộc "cách mạnh văn hóa" cướp đi sinh mang hai chục triệu người dân, cuộc đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên An môn năm 1989, và đã trải qua những tháng ngày căng thẳng khi chính người "đồng chí anh em " này đã đưa 60 vạn quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phia bắc của Việt nam tháng 2/1979.
Cuộc đời tôi đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm. Có lúc tôi được ngồi trên ghế cao bên cạnh nhà Vua của nước láng giềng Malaysia khi được Chủ tịch nước trao cho danh hiệu cao quý là Đai sứ, người đại diện tối cao của nhà nước Việt Nam , có khi lại đầu tắt mặt tối cùng những đồng nghiệp miệt mài dich bản tuyên bố của Chính Phủ ta lên án Bành trướng phương bắc đem quuân xâm lấn Việt Nam. Cũng có nhiều dịp tôi được rong chơi thăm thú những thắng cảnh lừng danh cua Paris ,Tokio , Washington nhưng cũng có những đêm dài tôi trằn trọc, âm thầm buồn bã trước nối đau của một cô dâu người Việt bị ngược đãi trên hòn đảo Đài loan khi tôi là người Đại diện của Việt Nam tại đó.
Nhưng trải qua tất cả những thăng trầm, những đảo lộn khó lường trước được đó, tôi vẫn bình thản để đến với tuổi già. Nghỉ hưu rồi, như các cụ xưa vẫn nói : "Vô quan nhất thân khinh " (Không còn quan chức, một đời nhẹ tênh).Sau những ngày tháng cần mẫn làm việc, nay đã đến lúc " Giải giáp quy điền", tôi luôn cảm nhận đước sự thanh thản, và có đôi chút "mãn nguyện" vì mình đã không làm điều gì hổ thẹn với tổ quốc, với nhân dân . Nay trở về với cuộc sông bình dị tôi cảm thấy thật an lòng. Người xưa đã nói : " Nhân đáo vô cầu, phẩm tự cao " (con người khi đã tới lúc không còn đòi hỏi gì nữa thì phẩm hạnh sẽ trở nên thanh cao ) quả đúng không sai.
Trong cuộc sống, điều đáng sợ nhất không phải là sợ bị mất của cải, tiền bạc, chức tước mà chính là sợ bị mất lòng tin ở cuộc sống, ở vào tuổi "cổ lai hy" điều này càng có ý nghĩ hơn. Cũng như các bạn khác, vào tuổi già rồi tôi luôn yêu quý trân trọng cuộc sống hơn, không phải bởi quỹ thời gian mỗi ngày một ít đi mà bởi chính là niềm tin với cuộc sống .
Như người đời thường nói :
Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
Đó cũng chính là tâm nguyện của tôi.
Trong những ký ức về cuộc đời mình, tôi luôn nhớ về một thời thơ ấu, nhớ về mái trường thiếu nhi Quế Lâm. Đó là những ngày tháng đẹp ,trong sáng của tuổi thơ, của tình bạn thắm đẵm nhưng tình cảm thân thiết vô tư. Bây giờ mỗi khi nghĩ về nhưng kỉ niệm đó , nhớ về mái trường xưa ấy tôi như thấy ở đâu đó :
Những hình bóng bạn bè thuở ấy
Sao không bao giờ nhạt phai?
Tình bạn thân thiết hồn nhiên ấy theo chúng tôi đi suốt những năm tháng của cuộc đời, làm sao lại nhạt phai được chứ , sẽ chẳng bao giờ nhạt phai đâu.
Thời gian cứ lặng lẽ qua đi , tôi như đang bồng bềnh trôi trong khúc cuối của dòng sông cuộc đời . Giờ đây trong cuộc sống bình thản này :
" Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
cùng với anh em tìm đến mọi người.."
Tôi sẽ mãi như thế và cùng với các bạn một thời Quế lâm của mình, chúng tôi sẽ sát cánh bên nhau, cùng nhau hát ca để luôn thấy :
".. Tiếng cười rộn rã bay ".
Công Lý tháng 6 năm 2013
VỀ THĂM MÁI TRƯỜNG XƯA
Về thăm trường cũ không em
Dòng sông Ly vẫn êm đềm trôi xuôi.?
Quế Lâm ngày ấy đâu rồi
Còn trong ký ức một thời khó phai
Đi tìm ai, có thấy ai
Những bè bạn tháng năm dài bên nhau
Vẫn màu hoa thắm Trúc đào
Vẫn tình bằng hữu thuở nào ấu thơ
Dòng đời trôi, một giấc mơ
Mái trường xưa giục lời thơ tuôn trào.
Trở về với nỗi ước ao
Quế Lâm trường cũ ấm sao tình người.
Công Lý 25 tháng 8 năm 2010
Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013
Sống thực
SỐNG THỰC HAY CHỈ "GẦN NHƯ LÀ SỐNG"
Tôi biết là Bạn đang sống đấy, nhưng đã có bao giờ bạn tự hỏi là mình đang "Sống thực" hay chỉ "Gần như là sống".? Cụm từ "Gần như là sống " không phải do tôi nghĩ ra mà đó là tên một cuốn sách của ĐỖ PHẤN . Ông vốn là một họa sỹ khá nổi tiếng nhưng vài năm gần đây lại nhảy sang viết văn. Điều lạ là những cuốn sách của ông khá hấp dẫn người đoc. Ông chuyên viết về đời sống chốn đô thị, viết về những thân phận trôi giạt trong cái "nhàu nhĩ phố phường", những công chức hạng xoàng loay hoay kiếm sống để nuôi vợ con từ vùng quê chuyển lên, những bác xích lô cuộc đời lam lũ, và có cả những kẻ bần cùng tứ chiếng, ma túy xì ke, những ả làm tiền..Họ sống ở những ngóc ngách của Hà thành tạo nên một lớp "cặn bã " đô thị..Cuộc sống thực của những hạng người này đươc ĐỖ PHẤN mô tả khá tỷ mỷ, nhiều lớp lang, góc cạnh và qua sự tả thực của ông, họ không phải đang sống mà chỉ đang "GẦN NHƯ LÀ SỐNG" thôi. Vậy thế nào mới là sống thực? câu hỏi đó Tác giả đã không trả lời mà dành cho độc giả. Tôi là một trong số độc giả đó và vẫn đang loay hoay với câu hỏi " Bạn đã sống thực chưa"?
Sáng sớm ngày thứ bảy đầu tháng sáu, bàu trời trong xanh không một gơn mây ,tôi bỗng nảy ra ý định đi chơi xa một chuyến để có cơ hội trải nghiệm cái gọi là "sống thực ". Tôi nhảy lên chiếc xe đạp vốn dùng hàng ngày và đạp thẳng về phía Hồ Tây. Sáng sớm trời mát xe còn khá tốt nên chả mấy chốc tôi đã qua con phô Lạc long quân và thế là chạm ngay đến mép nước Hồ Tây. Phía trước măt tôi trên mặt hồ là một đám sen dày đặc. Trời mây, mặt nước hồ lung linh và những búp sen hồng vươn lên trong nắng sớm tạo nên một bức tranh thật đep, thật kỳ ảo, thật ấn tượng, một cảm giác sảng khoái, lâng lâng tràn ngập lòng tôi. Tôi thấy từ trong đám sen ấy có một chiếc thuyền lướt đi, trên thuyền mấy cô gái trẻ đang ôm những bó sen màu hồng tỏa hương thơm dìu dịu. Khi lên bờ thấy tôi đứng bên chiếc xe đạp, một cô gái trẻ măng biếu tôi mấy búp sen, cầm trên tay chưa kịp nói lời cám ơn thì mấy cô gái ấy đã chạy như bay về phía chiếc xe con đỗ gần đó để lại trong gió những tiếng cười ròn rã. Tôi còn nghe vẳng bên tai tiếng một cô gái trong dám trẻ ấy
" Ông đem về nhớ lấy nhụy sen để ướp trà uống thơm lắm ông ạ ". Bỗng chốc tôi nhận ra mấy cô bé ấy hẳn là dân Hà Nôi đích thị, nếu không làm sao biết cách uống trà ướp sen của dân Hà Thành chứ. Trên đương về nhà tôi cứ nghĩ , thế này chả phải là đang "sống thực" đó sao. Có lẽ với tôi sống thưc tức là sống theo cách của mình, theo ý thích, ý định của mình, không lệ thuộc vào người khác, không sống theo cách cua người khác. Đơn giản thế thôi !
Còn nhớ mấy hôm trước gặp nhau tại nhà hàng Chiếu hoa, tôi cứ há hốc mồm mà nghe câu chuyện "PHƯỢT" hết sức ly kỳ của Cụ Thế Long, đám dân Cầu Ngà chung tôi chẳng ai là không phục sát đất khi nghe câu chuyện về người " ANH HUNG SA LỘ" ấy cả. Một " cặp đôi hoàn hảo ", Cụ Long và cụ Bà chỉ với chiếc xe máy vào loại "cổ lai hy" , trang bị khá đơn sơ, ba lô khoác áo đã sờn vai, một ít thực phẩm dự trữ, bánh lương khô, nước uống và hai tâm hồn trẻ trung, hừng hực khí thế đã bất chấp mọi khó khăn, gian khổ và cả hiểm nguy để vươt qua chặng đường HA NÔI -MÔC CHÂU -TUÂN GIÁO-SƠN LA-ĐIÊN BIÊN chưng 1600 cây sô, vươt qua bao đèo dốc cheo leo, qua cả những đỉnh núi chót vót cách măt biển tới nghin met. Dọc đường đi có khi lạc lối, có lúc hỏng xe, tự tìm đường, tự vá xe, hai Cụ vẫn sát cánh bên nhau, mốt tình bền chặt keo sơn suốt mấy chuc năm đã tạo nên sức mạnh phi thường đưa hai Cụ vượt qua muôn vàn thách thức, hiểm nguy để đến với đỉnh cao chói lọi của niền tin vào cuộc sống hôm nay. Chuyến "PHƯƠT" đày kỳ thú này đã chưng minh một chân lý giản đơn nhưng ý nghĩa vô cùng sâu xa : Không có giơi han nào mà con người không thể vượt qua. Đó chẳng phải là "sống thưc" hay sao? Triết lý rất đơn giản : sông theo cách của chính mình, đó chính là sống thực.
Tôi đang định dừng bài viết thì nhận được cú điện thoại của Cụ Tú Riềng, thật bất ngờ Cụ báo tin cho tôi hay Cụ đã sắm cái APAT đời mới nhất, cụ cười rất sảng khoái và nói oang oang trong điện thoại, " tư nay HAI LÚA này chẳng còn phải phiền lụy gì đên vợ con nữa, tha hồ lướt vep, chít chát thoải mái, xem phim xem ảnh mặc sức." Cụ kể chuyện đi sắm APAT khiến tôi cười đến tức bụng,Cụ bảo " Mình đã Hai lúa, đên mua của nó, nó lại còn "hai lúa "hơn cà mình" Tôi thì thầm nghĩ ,còn phải tìm đâu xa nữa, đó đích thị là "sống thực" rôi còn gì nữa.
Còn các Cụ thì sao? đã sống thực đích thị chưa ?
Chủ nhật 9/6/2013
Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013
BẠN BÈ TÔI
Một ngày hè nóng bức, tôi trở về với mảnh vườn ao cá, cố tránh cái hơi nóng chang chang bốc lên từ những ngôi nhà bê tông sừng sững giưa phố phừơng Hà thành. Tầm 9 giơ sáng, tôi đang loay hoay với cái vòi nước để tưới cho đám cây đã bị héo khô thì bỗng nhiên ngoài cổng có tiếng chú chó sủa, nghe tiếng sủa của nó tôi biết ngay là sắp có khách quen, chạy ra cổng thì hóa ra Cụ Tú Riêng và một anh bạn của Cụ ghé chơi. Tôi mở cửa rước Cụ vào, chú chó vẫy đuôi mừng rối rit. Hôm nay Cụ đôi mũ lưỡi chai, diên cái áo phông đỏ chót trông ra dáng dân Sport. Cụ cười hề hề, buông cặp kính đen Cụ bảo " Trên này mát thât, chả trách ông Lý cứ ở lỳ chỗ này, tìm mãi chả thấy ". Sáng nào tôi cũng hãm một ấm chè xanh, tiện thể bèn rót ra mấy cái cốc mời 2 vị khách. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn giả gỗ ngay sát mép hồ. Hớp một ngụm nước chè Cụ bảo " Đang đau hết cả đầu đây !" .Tôi bảo lại " Nội chiến" chứ gì ? Cụ không trả lời, cứ nhìn mãi ra mảnh vườn đày cây xanh bóng mát của tôi rồi gật gù " Kiểu này chắc phải học cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm :Ta dại ta tìm nới vắng vẻ/ Người khôn, người kiếm chỗ lao xao ...cho xong." . Thấy Cụ hôm nay có vẻ nhiều tâm tư, tôi định bụng sẽ từ từ trò chuyện hy vọng may ra "hạ hỏa" được phần nào nỗi buồn bực của Cụ chăng.
Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với Cụ, không ngờ Cụ lại rất hào hứng cứ như là Cụ lên đây với tôi chỉ cốt để thổ lộ bao nhiêu nỗi bưc xúc, buồn bực dồn nén lâu nay trong lòng Cụ vậy ! Có lần ngồi nhâm nhi cà phê với Calathau ở cái quán "WIN WIN" gần nhà Cụ Tú chúng tôi đã bàn đến lai lịch của cái tên " TÚ RIỀNG " nghe rất dân dã lại gần gũi thân thiết ấy. Chả nói thì ai cũng biết Cụ nay là đương kim PCT kiêm TTK Hôi "Cầu
Ngà"( giờ đã đổi "quán hiệu" sang Chiếu Hoa.). Bởi thế cái tên Tú Riềng rất hợp với Cụ và trở nên quen thuộc với mọi người. Trong khôi 5 LS-QL của chúng ta có lẽ ai cũng thích trò chuyện với Cụ, có khi chỉ là tán gẫu dăm ba câu chuyện đời thường nhưng hễ Cụ có mặt là câu chuyên sôi nổi, rôm rả hẳn lên, mỗi lân hop lớp liên hoan , chè chén chẳng bao giơ vắng được Cụ. Nhóm Cầu Ngà thì khỏi phải nói, Cụ luôn là nguồn cảm hứng bất tân cho chúng bạn, bởi đâu chỉ có cạn chén nâng ly, khi thưởng thức cái món khoái khẩu cày tơ, mỗi lân nâng chén Cụ lai ê a đọc mấy câu thơ của Calathau viết về cái thú mỗi khi đến với món "Quốc hồn, Quốc túy " ấy khiến mọi người không nhịn được tiếng cười.
Cụ Tú Riềng không làm thơ , nhưng Cụ có cái tài lẻ là đọc thơ của bạn bè, của người khác cực hay, cực bốc và vô cùng hấp dẫn cứ như là thơ là của Cụ còn tác giả bài thơ dù là ai đó cũng chỉ là người chép hộ mà thôi ! Tôi được biết đến bài thơ "thế sự" nổi tiếng của Vũ Hồng Quang có tựa đề "Bài ca tôi vẫn hát" cũng là nghe Cụ Tú đọc trong lúc ngồi với nhau ở cái quán "Win Win" ấy. Cụ Tú còn một biệt tài nữa là Kể chuyện rất có duyên, lời lẽ thì giản di, phong thái thì dân dã,có chút hài hước, nhiều khi như hút hồn người nghe, chẳng phải chỉ các cụ ông mà ngay các Cụ Bà cũng có cảm nhận ấy.
Nhưng ấn tương sâu đậm nhất Cụ để lai trong lòng tôi và nhiều bè bạn khác nữa đấy chính là tình cảm chân thành ,sâu lắng đối với bạn bè của Cụ. Cụ luôn quan tâm hỏi han ,đông viên ban bè mỗi khi nghe tin bạn gặp khó, sức khỏe suy giảm. Cứ gặp tôi là Cụ hỏi " vẫn còn sống đấy chứ ?" Cụ cười khà khà rồi bảo " tao với mày chưa đi được đâu, đời còn nhiều cái hay lắm phải nán lại mà sống chứ ". Đấy ,Cụ là thế, sống lạc quan yêu đời , nhiều khi cái vẻ yêu đời ,bất cần của Cu truyền sang cả tôi , Quang Trung, và Trung Hải nữa. Vì thế mỗi lần chúng tôi găp nhau đều khó tránh đươc việc cạn chén nâng ly để " cho quên sự đời" như Cụ vẫn thường nói.
Lúc này nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Cụ, tôi gợi ý " Hồi này lên mạng cứ thấy mấy ông quan chức cỡ bự có vẻ thich nói đên " TÂM NHÌN" lắm thì phải, vậy Cụ thấy thế nào ?". Như được gãi đúng chỗ ngứa, Cụ bèn nói liền một mạch :
Chuyện về "tầm nhìn" chả phải nói đâu xa, xảy ra ngay trước cổng nhà Tú tôi. Chả là Quận , Phường gì đó chiếu cố đến dân mới bày ra một "Dự án" sửa đường và ống dẫn nước ở khu dân cư nơi tôi sinh sống. " Dự án" được thiết kế rồi thi công có vẻ chính quy lắm. Một hôm mấy công nhân đang say sưa làm việc ,thì bỗng nhiên có ông già bên nhà láng giềng chạy ra, khoa chân múa tay, nói với mấy công nhân là phải "nâng cốt " lên nữa làm thế mới đẹp , mới bền. Cụ Tú biết rõ ông ta nói thế chẳng qua là muốn nâng cao mặt.đường để nước khỏi chảy vào nhà mình, nhưng lại cứ làm ra vẻ ta đây chỉ đạo! Tức quá Tú tôi mới bảo thẳng với ông hàng xóm ấy : " Này tôi với ông quy hoạch rồi, tầm nhin dài lắm cũng chỉ đến 2014 thôi, thế mà ông lại phóng cái Tầm nhìn tới mãi 2050 ! Thôi đi , liệu ông còn đến lúc ấy không? Can thiệp vào chuyện của Quận của Phường làm gi nữa ông ơi !?" . Cũng tưởng thế là qua, ai ngờ đúng 2 hôm sau đã thấy bên nhà ông hàng xóm ấy dán cái cáo phó " Vô cùng thương tiếc" !
. Cụ Tú bảo, các ông quan tai to mặt lớn cũng thế thôi, ông nào cũng cư huênh hoang, nào là " Tầm nhin 2020 ", nào là " tầm nhìn 2050" vài ngày sau đã thấy thông báo " Vô cùng thương tiếc "..
Nói về tâm thái , cách ứng xử của các " Quan phụ mẫu " thời nay, Cụ Tú đã đúc kết trong một đoản ngữ như là văn bia vậy. Đó không gị khác hơn là "Đi nhẹ, nói khẽ, cười tươi, cầm tinh con Gián người người noi theo. " Ngẫm ra thật chí lý chẳng cần giải thích gì hơn. Nói đến đấy Cụ bảo, cuộc sống bây giơ khác ngày trước lắm, người ta cư bảo " Ở hiền gặp lành " bây giờ thì cứ phải "liều" vì có " Ở liều mới gặp lành ", sống bây giờ Phải "táo bạo " vì có "táo bạo mới tạo được niêm tin " . Nhưng mà bây giơ còn biết tin ai nữa chứ !.
Uống trà mãi cũng ớn, tôi và Cụ bèn xoay sang " Cạn chén nhâm nhi, cho cuộc đời hoành tráng lâm ly " Cụ Tú bảo thế. Uống xong vài ly rươu quê có pha thuốc Cu Mao tặng Cụ Hồ, cụ đeo lại chiếc kính "dâm" rồi nói như ra lệnh " Thôi bây gìơ đi thư giãn ". Tôi bảo "Thế còn chuyên nhà chuyện cửa, chuyên vợ chuyên con ?".Cụ lắc đầu bảo "Chuyện ấy để khi khác ta hãy bàn.". Vậy là tôi hẹn Cụ lần sau lên đây chúng tôi sẽ trò chuyện tiếp ,còn bây giờ thì như Cụ nói :
" Tôi muốn xa lánh chuyện đời
Tôi muốn quên đi loài người... "
Nhưng liệu Cụ có quên đi được không ?
Công Lý ghi tại nhà vườn 24/5/2013
TRÒ CHUYỆN CÙNG CỤ TÚ RIỀNG
Một ngày hè nóng bức, tôi trở về với mảnh vườn ao cá, cố tránh cái hơi nóng chang chang bốc lên từ những ngôi nhà bê tông sừng sững giưa phố phừơng Hà thành. Tầm 9 giơ sáng, tôi đang loay hoay với cái vòi nước để tưới cho đám cây đã bị héo khô thì bỗng nhiên ngoài cổng có tiếng chú chó sủa, nghe tiếng sủa của nó tôi biết ngay là sắp có khách quen, chạy ra cổng thì hóa ra Cụ Tú Riêng và một anh bạn của Cụ ghé chơi. Tôi mở cửa rước Cụ vào, chú chó vẫy đuôi mừng rối rit. Hôm nay Cụ đôi mũ lưỡi chai, diên cái áo phông đỏ chót trông ra dáng dân Sport. Cụ cười hề hề, buông cặp kính đen Cụ bảo " Trên này mát thât, chả trách ông Lý cứ ở lỳ chỗ này, tìm mãi chả thấy ". Sáng nào tôi cũng hãm một ấm chè xanh, tiện thể bèn rót ra mấy cái cốc mời 2 vị khách. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn giả gỗ ngay sát mép hồ. Hớp một ngụm nước chè Cụ bảo " Đang đau hết cả đầu đây !" .Tôi bảo lại " Nội chiến" chứ gì ? Cụ không trả lời, cứ nhìn mãi ra mảnh vườn đày cây xanh bóng mát của tôi rồi gật gù " Kiểu này chắc phải học cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm :Ta dại ta tìm nới vắng vẻ/ Người khôn, người kiếm chỗ lao xao ...cho xong." . Thấy Cụ hôm nay có vẻ nhiều tâm tư, tôi định bụng sẽ từ từ trò chuyện hy vọng may ra "hạ hỏa" được phần nào nỗi buồn bực của Cụ chăng.
| Cụ Tú Riềng đang trả lời phỏng vấn |
Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với Cụ, không ngờ Cụ lại rất hào hứng cứ như là Cụ lên đây với tôi chỉ cốt để thổ lộ bao nhiêu nỗi bưc xúc, buồn bực dồn nén lâu nay trong lòng Cụ vậy ! Có lần ngồi nhâm nhi cà phê với Calathau ở cái quán "WIN WIN" gần nhà Cụ Tú chúng tôi đã bàn đến lai lịch của cái tên " TÚ RIỀNG " nghe rất dân dã lại gần gũi thân thiết ấy. Chả nói thì ai cũng biết Cụ nay là đương kim PCT kiêm TTK Hôi "Cầu
Ngà"( giờ đã đổi "quán hiệu" sang Chiếu Hoa.). Bởi thế cái tên Tú Riềng rất hợp với Cụ và trở nên quen thuộc với mọi người. Trong khôi 5 LS-QL của chúng ta có lẽ ai cũng thích trò chuyện với Cụ, có khi chỉ là tán gẫu dăm ba câu chuyện đời thường nhưng hễ Cụ có mặt là câu chuyên sôi nổi, rôm rả hẳn lên, mỗi lân hop lớp liên hoan , chè chén chẳng bao giơ vắng được Cụ. Nhóm Cầu Ngà thì khỏi phải nói, Cụ luôn là nguồn cảm hứng bất tân cho chúng bạn, bởi đâu chỉ có cạn chén nâng ly, khi thưởng thức cái món khoái khẩu cày tơ, mỗi lân nâng chén Cụ lai ê a đọc mấy câu thơ của Calathau viết về cái thú mỗi khi đến với món "Quốc hồn, Quốc túy " ấy khiến mọi người không nhịn được tiếng cười.
Cụ Tú Riềng không làm thơ , nhưng Cụ có cái tài lẻ là đọc thơ của bạn bè, của người khác cực hay, cực bốc và vô cùng hấp dẫn cứ như là thơ là của Cụ còn tác giả bài thơ dù là ai đó cũng chỉ là người chép hộ mà thôi ! Tôi được biết đến bài thơ "thế sự" nổi tiếng của Vũ Hồng Quang có tựa đề "Bài ca tôi vẫn hát" cũng là nghe Cụ Tú đọc trong lúc ngồi với nhau ở cái quán "Win Win" ấy. Cụ Tú còn một biệt tài nữa là Kể chuyện rất có duyên, lời lẽ thì giản di, phong thái thì dân dã,có chút hài hước, nhiều khi như hút hồn người nghe, chẳng phải chỉ các cụ ông mà ngay các Cụ Bà cũng có cảm nhận ấy.
| Hai ông bạn già bên bờ ao |
Nhưng ấn tương sâu đậm nhất Cụ để lai trong lòng tôi và nhiều bè bạn khác nữa đấy chính là tình cảm chân thành ,sâu lắng đối với bạn bè của Cụ. Cụ luôn quan tâm hỏi han ,đông viên ban bè mỗi khi nghe tin bạn gặp khó, sức khỏe suy giảm. Cứ gặp tôi là Cụ hỏi " vẫn còn sống đấy chứ ?" Cụ cười khà khà rồi bảo " tao với mày chưa đi được đâu, đời còn nhiều cái hay lắm phải nán lại mà sống chứ ". Đấy ,Cụ là thế, sống lạc quan yêu đời , nhiều khi cái vẻ yêu đời ,bất cần của Cu truyền sang cả tôi , Quang Trung, và Trung Hải nữa. Vì thế mỗi lần chúng tôi găp nhau đều khó tránh đươc việc cạn chén nâng ly để " cho quên sự đời" như Cụ vẫn thường nói.
Lúc này nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Cụ, tôi gợi ý " Hồi này lên mạng cứ thấy mấy ông quan chức cỡ bự có vẻ thich nói đên " TÂM NHÌN" lắm thì phải, vậy Cụ thấy thế nào ?". Như được gãi đúng chỗ ngứa, Cụ bèn nói liền một mạch :
Chuyện về "tầm nhìn" chả phải nói đâu xa, xảy ra ngay trước cổng nhà Tú tôi. Chả là Quận , Phường gì đó chiếu cố đến dân mới bày ra một "Dự án" sửa đường và ống dẫn nước ở khu dân cư nơi tôi sinh sống. " Dự án" được thiết kế rồi thi công có vẻ chính quy lắm. Một hôm mấy công nhân đang say sưa làm việc ,thì bỗng nhiên có ông già bên nhà láng giềng chạy ra, khoa chân múa tay, nói với mấy công nhân là phải "nâng cốt " lên nữa làm thế mới đẹp , mới bền. Cụ Tú biết rõ ông ta nói thế chẳng qua là muốn nâng cao mặt.đường để nước khỏi chảy vào nhà mình, nhưng lại cứ làm ra vẻ ta đây chỉ đạo! Tức quá Tú tôi mới bảo thẳng với ông hàng xóm ấy : " Này tôi với ông quy hoạch rồi, tầm nhin dài lắm cũng chỉ đến 2014 thôi, thế mà ông lại phóng cái Tầm nhìn tới mãi 2050 ! Thôi đi , liệu ông còn đến lúc ấy không? Can thiệp vào chuyện của Quận của Phường làm gi nữa ông ơi !?" . Cũng tưởng thế là qua, ai ngờ đúng 2 hôm sau đã thấy bên nhà ông hàng xóm ấy dán cái cáo phó " Vô cùng thương tiếc" !
. Cụ Tú bảo, các ông quan tai to mặt lớn cũng thế thôi, ông nào cũng cư huênh hoang, nào là " Tầm nhin 2020 ", nào là " tầm nhìn 2050" vài ngày sau đã thấy thông báo " Vô cùng thương tiếc "..
Nói về tâm thái , cách ứng xử của các " Quan phụ mẫu " thời nay, Cụ Tú đã đúc kết trong một đoản ngữ như là văn bia vậy. Đó không gị khác hơn là "Đi nhẹ, nói khẽ, cười tươi, cầm tinh con Gián người người noi theo. " Ngẫm ra thật chí lý chẳng cần giải thích gì hơn. Nói đến đấy Cụ bảo, cuộc sống bây giơ khác ngày trước lắm, người ta cư bảo " Ở hiền gặp lành " bây giờ thì cứ phải "liều" vì có " Ở liều mới gặp lành ", sống bây giờ Phải "táo bạo " vì có "táo bạo mới tạo được niêm tin " . Nhưng mà bây giơ còn biết tin ai nữa chứ !.
Uống trà mãi cũng ớn, tôi và Cụ bèn xoay sang " Cạn chén nhâm nhi, cho cuộc đời hoành tráng lâm ly " Cụ Tú bảo thế. Uống xong vài ly rươu quê có pha thuốc Cu Mao tặng Cụ Hồ, cụ đeo lại chiếc kính "dâm" rồi nói như ra lệnh " Thôi bây gìơ đi thư giãn ". Tôi bảo "Thế còn chuyên nhà chuyện cửa, chuyên vợ chuyên con ?".Cụ lắc đầu bảo "Chuyện ấy để khi khác ta hãy bàn.". Vậy là tôi hẹn Cụ lần sau lên đây chúng tôi sẽ trò chuyện tiếp ,còn bây giờ thì như Cụ nói :
" Tôi muốn xa lánh chuyện đời
Tôi muốn quên đi loài người... "
Nhưng liệu Cụ có quên đi được không ?
Công Lý ghi tại nhà vườn 24/5/2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






