Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013
THƠ ĐƯA VÀO SÁCH
CHÙM THƠ VIẾT VỀ CUỘC ĐỜI
Bài 1
VỊNH HOA CÚC
( Biểu tượng của THẠCH QUÂN)
Cúc vàng hai đóa xinh xinh
Thêu trên màu biếc bóng mình bóng ta
Cầm tay suốt chặng đường xa
Rưng rưng giọt lệ khóc nhòa hoàng hôn.
( Quang Trung đề tặng )
Bảy mươi năm thọ trần gian
Vẫn màu hoa ấy có tàn đâu em
Tuổi già xanh, một trái tim
Bảy mươi xuân vẫn có mình có ta.
( Công Lý tiếp vần) 16/10/2011
Bài 2 NỖI NHỚ
Ngày thu một thoáng heo may
Nghe thời gian đọng chiều say nắng vàng
Se se gió gọi mùa sang
Miên man nỗi nhớ ngập tràn hồn ta
Ngỡ như người đã đi xa
Bóng hình kia đã nhạt nhòa khói sương
Đâu hay còn mãi nhớ thương
Đâu hay còn mãi vấn vương một đời
Thu đi lá có còn rơi
Chiều tàn nắng úa ta ngồi nhớ ai ?
ĐÊM NAY
Đêm nay trăng lặn mờ sương
Người đi đi mãi dặm trường xa xôi
Cô đơn chỉ một mình tôi
Rượu nồng nhấp chén lòng chơi vơi buồn
Một trời đêm vắng mênh mông
Một hồn thơ giữa hư không mơ màng.
Thang 10/ 2012
Bài 3 BỖNG DƯNG
Đôi khi buồn đến tái tê
Bỗng dưng lại muốn trôi về tuổi thơ
Đôi khi vui đến bất ngờ
Bỗng dưng nhớ buổi hẹn hò hôm nao
Đôi khi lòng thấy xôn xao
Bỗng dưng lại nhớ chiều nào vắng em
Đôi khi trò chuyện cùng đêm
Bỗng dưng nghe nặng nỗi niềm đày vơi
Đôi khi nghe một tiếng cười
Bỗng dưng lòng chợt bùi ngùi xót xa.
Mùa đông 2012
Bài 4 NGẪU HỨNG SÔNG CẦU
(Họa thơ Hồng Quang)
Sông Cầu nước chảy lơ thơ
Con sông như thực như mơ bồng bềnh
Êm trôi dòng nước lung linh
Nghe câu quan họ nghĩa tình thiết tha
Sông Cầu vẫn chảy về xa
Người ơi, người ở cùng ta đừng về
Bồn chồn dạo bước đường quê
Bóng tre xanh mát trưa hè nao nao
Bến đò xưa khúc sông sâu
Nào ai có đợi ai đâu, hỡi người./
Bên Sông Cầu, tháng 10/2011
Xin tùy ban Biên tập lựa chọn.
Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013
TỰ CHUYỆN
(Bài đăng vào sách của lớp)
TIA CHỚP CỦA SỐ PHẬN
Tôi sinh ngay 16 tháng 10 năm 1941 tai một nhà hộ sinh trên con phố Quán Sứ của Ha Nội. Cha Mẹ tôi đều là người gốc Huế. Năm 1933 cha tôi Hoàng Như Tiếp tốt nghiệp khóa đầu tiên tại khoa Kiến trúc của trương Mỹ thuật Đông dương, ông đưa gia đình ra Ha nôi sinh sống. Ra trường ông mở xưởng vẽ tư nhân cộng tác với KTS Nguyễn cao Luyện và họa sỹ Tô ngọc Vân. cuộc sống của gia đình tôi lúc đó rất khá giả, tôi được một vú em chăm sóc. Năm 1946, khi tôi lên 5 tuổi thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, là một trí thức nhưng cha tôi đã nghe theo lời Bác gọi đưa cả gia đinh ra kháng chiến. Gia đình tôi định cư ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Những năm từ 1947 tới 1952 tôi sống cùng Mẹ, chi, em gái tại đó, tôi phụ giúp mẹ tăng gia, cuốc đất trồng khoai, cuộc sống tuy vất vả nhưng cũng tạm đủ ăn. Tôi vẫn được cắp sách tới trừơng làng, học đến hết lớp 4. Bố tôi làm việc tại An toàn khu ( ATK ), chính ông là người đã thiết kế khu hội trường và nhà ở cho các đại biểu cả nước về dự Đai hội Đảng toàn quốc lần thư 2 tai Việt Bắc, công trình này được Bác Hồ giao phó, khi hoàn thành Bác đã rất ngợi khen và Cha tôi được đặc cách mời tham dự Đai hội .
Cuối năm 1953, một hôm bất ngờ cha tôi ghé về thăm nhà và nói với Mẹ tôi là Bác Hồ và Trung ương đảng chọn một số con em cán bộ cách mang và trí thức theo Kháng chiên gửi sang bên TQ để hoc tập sau này làm việc cho đất nước khi kháng chiến thắng lợi. Cha tôi muốn cho người chị gái hơn tôi một tuổi đi, nhưng cả mẹ và chị đều không muốn con gái phải xa mẹ, thế là tôi được chọn thay. Một tuần sau đó một chú cán bô tên là Lễ đưa xe đạp đến đèo tôi lên khu ATK. Khi chia tay Mẹ chị và 2 em tôi đã buồn đến rơi nước mắt và không muốn xa gia đình. Tôi theo chú ghé qua khu ATK nhưng không gặp cha tôi, ở đó một ngày rồi hai chú cháu lên đường qua Thái Nguyên lên Lạng Sơn. Đường đi đày khó khăn trắc trở, chú Lễ thật vất vả còn tôi thì ngồi ê cả mông, cuối cùng cũng đến được trạm liên lạc ở ngay sát biên giơi . Tôi ở đó vài hôm rồi cùng một nhóm các ban khác đi bộ qua biên giới Muc Nam quan rôi lên xe ô tô đi tiếp. Khi qua biên giới tôi cũng không biết, lúc đó chỉ nhặt được vỏ bao thuốc lá "Đại Tiền môn" thi biết là đã sang đất Trung Quôc. Từ Bằng Tường tôi lên xe ô tô mui bịt kín lên Nam Ninh rồi đi xe lửa lên Quế Lâm. Tới ga Quế Lâm bọn tôi lại phải chui vào xa tải GMC bịt kín chạy về trường rồi sau đó thế nào tôi không con nhớ nữa, chỉ thấy mệt và buồn. Lúc tôi đến trường thì đã có nhiều bạn rồi không biết là các bạn đó mới tư trong nước sang Quế Lâm hay là từ Lư Sơn chuyển về. Tôi được phân vào lớp 5 A, khi chụp ảnh 3 người, tôi đứng giữa, hai bên là bạn Hông Sỹ và Tiến Nguyên (Bức ảnh này đã bị thất lạc khi tôi đi sơ tán trong thời gian Mỹ ném bom Hà Nội ),thật đang buồn là 2 người bạn đó có rất nhiều kỷ niêm với tôi lại đều đã vội vàng ra đi. Ở trường Quế Lâm tôi thuôc loại trò ngoan, không nghịch ngợm, tính hơi nhát và ngô nghê chẳng biết gi ngoài chuyện học hành. Tôi cũng như nhiều bạn nam rất thích ra chơi và tắm ở sông Ly, nước sông rất xanh, thi thoảng lại thấy một chiếc thuyền lướt nhẹ ,trên thuyền có những chú chim sếu chuyên mổ bắt cá cho chủ thuyền . Đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi cái món cháo trắng ăn với calathau mỗi buổi sáng, hễ có dịp đến Trung Quốc là tôi lại mua một ít calathau đem về ăn và gửi tặng các bạn cùng lớp thời Quế lâm. Kỷ niệm tôi còn nhớ mãi đó là buổi đưa tiễn cô Quế về Nam Ninh tại nhà ga Quế lâm, kỉ niệm đó tôi đã ghi lại trong bài viết về cô giáo thân yêu của lớp 5 chúng mình. Những tháng năm đó để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời mỗi chúng ta sau này. Tôi coi đó như là một "tia chớp của số phận" mình vậy, chuỗi ngày tháng của tuổi thơ ấy là những bước đi chập chững đầu đời tạo nên tính cách con người tôi trong suốt cuộc đời sau này.
Sau khi trở về nước năm 1957 , tôi và nhiều bạn khác theo học cấp ba tại trường Chu văn An . Sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, năm 1961 tôi theo học lớp tiếng trung ở trường ngoại ngữ Gia Lâm, tháng 9 năm 1961 thì sang học tại khoa ngữ văn trương Đại học Bắc Kinh Trung Quốc, cùng học với Ngọc Trâm. Học với nhau một thời gian thì bạn Trâm bị ốm phải trở vè nước, ngày bạn ấy chia tay chúng tôi còn mang hoa đến tặng. Sau 5 năm dùi mài sách vở, học chuyên về hán ngữ và văn học Trung Quốc tôi cứ đinh ninh sẽ về công tác ở viện ngôn ngư chỗ ban Trâm, nhưng không ngờ tháng 11 năm 1966 tôi được Đại Sứ Trần Tử Bình chọn làm phiên dịch cho Sứ quán . Thế là tôi trở thành nhân viên Ngoại giao và bắt đầu cuộc đời đi sứ liên miên, làm cán bộ phiên dịch rồi chuyến sang cán bộ nghiên cứu. Năm 1992 tôi được đề bạt làm Vụ trưởng vụ Trung Quốc của Bộ Ngoại giao, sau đổi thành Vụ Đông Bắc Á . Tôi giữ chức vụ này suốt chục năm sau đó cho tới khi nghỉ hưu năm 2007. Trong 40 năm làm nghề ngoai giao tôi đã 3 lần đi sứ Bắc kinh , làm Tùy viên, rồi Bí thứ 3 , lân sau cùng ở TQ là Tham tán Công sứ (1988-1990 ). Năm 1996 tôi được Nhà nước cử làm Đại Sư Đặc mệnh toàn quyền tai Malaysia trong 4 năm, đến năm 2003 khi làm Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á thì tôi lại được cử sang Đài Loan làm Chủ nhiệm văn phòng Kinh tế Văn hóa của VN ở Đài bắc . Năm 1971 tôi lập gia đình, điều hơi bất ngờ là Vợ tôi Nguyễn Hồng Liên lại có anh trai là Nguyễn Ngọc Tiến học trò lớp 3A Quế Lâm, Anh đã hy sinh cùng mấy người bạn nữa đều là học trò Quế Lâm khối 3, khi đó Anh là phi công lái máy bay trực thăng tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ trên bàu trời Hà Nôi năm 1967.
Hơn 40 năm theo nghiệp Ngoại giao, tôi gần như tập trung toàn bộ sinh lực vào công việc theo dõi, nghiên cứu về đất nước Trung Quôc - người láng giềng khổng lồ ở phía bắc, đất nước mà thuở ấu thơ tôi đã từng sống, ăn học lớn lên rồi làm việc nhiều năm tai đó, tôi cũng là người trực tiếp tham gia vào việc xử lý mối quan hệ VIETNAM-TRUNG HOA đày thăng trầm.Tôi đã dến với nhiều nước trên thế giơi tư Âu sang Á, từ Nga đên Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam á, nhưng Trung Quốc vẫn là nơi tôi có nhiều duyên nợ nhất. Tôi đã sống ở đó trong những thời kỳ quan hệ hai nước tốt đẹp nhất, cảm nhận rõ tấm lòng hào hiệp của người dân Trung Quốc mặc dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành một phân cơm áo chi viện cho cuộc chiến chông Mỹ giành độc lập thống nhất của nhân dân Việt nam, tôi cũng tận mắt chứng kiến những phong ba bão táp của cuộc "cách mạnh văn hóa" cướp đi sinh mang hai chục triệu người dân, cuộc đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên An môn năm 1989, và đã trải qua những tháng ngày căng thẳng khi chính người "đồng chí anh em " này đã đưa 60 vạn quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phia bắc của Việt nam tháng 2/1979.
Cuộc đời tôi đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm. Có lúc tôi được ngồi trên ghế cao bên cạnh nhà Vua của nước láng giềng Malaysia khi được Chủ tịch nước trao cho danh hiệu cao quý là Đai sứ, người đại diện tối cao của nhà nước Việt Nam , có khi lại đầu tắt mặt tối cùng những đồng nghiệp miệt mài dich bản tuyên bố của Chính Phủ ta lên án Bành trướng phương bắc đem quuân xâm lấn Việt Nam. Cũng có nhiều dịp tôi được rong chơi thăm thú những thắng cảnh lừng danh cua Paris ,Tokio , Washington nhưng cũng có những đêm dài tôi trằn trọc, âm thầm buồn bã trước nối đau của một cô dâu người Việt bị ngược đãi trên hòn đảo Đài loan khi tôi là người Đại diện của Việt Nam tại đó.
Nhưng trải qua tất cả những thăng trầm, những đảo lộn khó lường trước được đó, tôi vẫn bình thản để đến với tuổi già. Nghỉ hưu rồi, như các cụ xưa vẫn nói : "Vô quan nhất thân khinh " (Không còn quan chức, một đời nhẹ tênh).Sau những ngày tháng cần mẫn làm việc, nay đã đến lúc " Giải giáp quy điền", tôi luôn cảm nhận đước sự thanh thản, và có đôi chút "mãn nguyện" vì mình đã không làm điều gì hổ thẹn với tổ quốc, với nhân dân . Nay trở về với cuộc sông bình dị tôi cảm thấy thật an lòng. Người xưa đã nói : " Nhân đáo vô cầu, phẩm tự cao " (con người khi đã tới lúc không còn đòi hỏi gì nữa thì phẩm hạnh sẽ trở nên thanh cao ) quả đúng không sai.
Trong cuộc sống, điều đáng sợ nhất không phải là sợ bị mất của cải, tiền bạc, chức tước mà chính là sợ bị mất lòng tin ở cuộc sống, ở vào tuổi "cổ lai hy" điều này càng có ý nghĩ hơn. Cũng như các bạn khác, vào tuổi già rồi tôi luôn yêu quý trân trọng cuộc sống hơn, không phải bởi quỹ thời gian mỗi ngày một ít đi mà bởi chính là niềm tin với cuộc sống .
Như người đời thường nói :
Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
Đó cũng chính là tâm nguyện của tôi.
Trong những ký ức về cuộc đời mình, tôi luôn nhớ về một thời thơ ấu, nhớ về mái trường thiếu nhi Quế Lâm. Đó là những ngày tháng đẹp ,trong sáng của tuổi thơ, của tình bạn thắm đẵm nhưng tình cảm thân thiết vô tư. Bây giờ mỗi khi nghĩ về nhưng kỉ niệm đó , nhớ về mái trường xưa ấy tôi như thấy ở đâu đó :
Những hình bóng bạn bè thuở ấy
Sao không bao giờ nhạt phai?
Tình bạn thân thiết hồn nhiên ấy theo chúng tôi đi suốt những năm tháng của cuộc đời, làm sao lại nhạt phai được chứ , sẽ chẳng bao giờ nhạt phai đâu.
Thời gian cứ lặng lẽ qua đi , tôi như đang bồng bềnh trôi trong khúc cuối của dòng sông cuộc đời . Giờ đây trong cuộc sống bình thản này :
" Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
cùng với anh em tìm đến mọi người.."
Tôi sẽ mãi như thế và cùng với các bạn một thời Quế lâm của mình, chúng tôi sẽ sát cánh bên nhau, cùng nhau hát ca để luôn thấy :
".. Tiếng cười rộn rã bay ".
Công Lý tháng 6 năm 2013
VỀ THĂM MÁI TRƯỜNG XƯA
Về thăm trường cũ không em
Dòng sông Ly vẫn êm đềm trôi xuôi.?
Quế Lâm ngày ấy đâu rồi
Còn trong ký ức một thời khó phai
Đi tìm ai, có thấy ai
Những bè bạn tháng năm dài bên nhau
Vẫn màu hoa thắm Trúc đào
Vẫn tình bằng hữu thuở nào ấu thơ
Dòng đời trôi, một giấc mơ
Mái trường xưa giục lời thơ tuôn trào.
Trở về với nỗi ước ao
Quế Lâm trường cũ ấm sao tình người.
Công Lý 25 tháng 8 năm 2010
(Bài đăng vào sách của lớp)
TIA CHỚP CỦA SỐ PHẬN
Tôi sinh ngay 16 tháng 10 năm 1941 tai một nhà hộ sinh trên con phố Quán Sứ của Ha Nội. Cha Mẹ tôi đều là người gốc Huế. Năm 1933 cha tôi Hoàng Như Tiếp tốt nghiệp khóa đầu tiên tại khoa Kiến trúc của trương Mỹ thuật Đông dương, ông đưa gia đình ra Ha nôi sinh sống. Ra trường ông mở xưởng vẽ tư nhân cộng tác với KTS Nguyễn cao Luyện và họa sỹ Tô ngọc Vân. cuộc sống của gia đình tôi lúc đó rất khá giả, tôi được một vú em chăm sóc. Năm 1946, khi tôi lên 5 tuổi thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, là một trí thức nhưng cha tôi đã nghe theo lời Bác gọi đưa cả gia đinh ra kháng chiến. Gia đình tôi định cư ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Những năm từ 1947 tới 1952 tôi sống cùng Mẹ, chi, em gái tại đó, tôi phụ giúp mẹ tăng gia, cuốc đất trồng khoai, cuộc sống tuy vất vả nhưng cũng tạm đủ ăn. Tôi vẫn được cắp sách tới trừơng làng, học đến hết lớp 4. Bố tôi làm việc tại An toàn khu ( ATK ), chính ông là người đã thiết kế khu hội trường và nhà ở cho các đại biểu cả nước về dự Đai hội Đảng toàn quốc lần thư 2 tai Việt Bắc, công trình này được Bác Hồ giao phó, khi hoàn thành Bác đã rất ngợi khen và Cha tôi được đặc cách mời tham dự Đai hội .
Cuối năm 1953, một hôm bất ngờ cha tôi ghé về thăm nhà và nói với Mẹ tôi là Bác Hồ và Trung ương đảng chọn một số con em cán bộ cách mang và trí thức theo Kháng chiên gửi sang bên TQ để hoc tập sau này làm việc cho đất nước khi kháng chiến thắng lợi. Cha tôi muốn cho người chị gái hơn tôi một tuổi đi, nhưng cả mẹ và chị đều không muốn con gái phải xa mẹ, thế là tôi được chọn thay. Một tuần sau đó một chú cán bô tên là Lễ đưa xe đạp đến đèo tôi lên khu ATK. Khi chia tay Mẹ chị và 2 em tôi đã buồn đến rơi nước mắt và không muốn xa gia đình. Tôi theo chú ghé qua khu ATK nhưng không gặp cha tôi, ở đó một ngày rồi hai chú cháu lên đường qua Thái Nguyên lên Lạng Sơn. Đường đi đày khó khăn trắc trở, chú Lễ thật vất vả còn tôi thì ngồi ê cả mông, cuối cùng cũng đến được trạm liên lạc ở ngay sát biên giơi . Tôi ở đó vài hôm rồi cùng một nhóm các ban khác đi bộ qua biên giới Muc Nam quan rôi lên xe ô tô đi tiếp. Khi qua biên giới tôi cũng không biết, lúc đó chỉ nhặt được vỏ bao thuốc lá "Đại Tiền môn" thi biết là đã sang đất Trung Quôc. Từ Bằng Tường tôi lên xe ô tô mui bịt kín lên Nam Ninh rồi đi xe lửa lên Quế Lâm. Tới ga Quế Lâm bọn tôi lại phải chui vào xa tải GMC bịt kín chạy về trường rồi sau đó thế nào tôi không con nhớ nữa, chỉ thấy mệt và buồn. Lúc tôi đến trường thì đã có nhiều bạn rồi không biết là các bạn đó mới tư trong nước sang Quế Lâm hay là từ Lư Sơn chuyển về. Tôi được phân vào lớp 5 A, khi chụp ảnh 3 người, tôi đứng giữa, hai bên là bạn Hông Sỹ và Tiến Nguyên (Bức ảnh này đã bị thất lạc khi tôi đi sơ tán trong thời gian Mỹ ném bom Hà Nội ),thật đang buồn là 2 người bạn đó có rất nhiều kỷ niêm với tôi lại đều đã vội vàng ra đi. Ở trường Quế Lâm tôi thuôc loại trò ngoan, không nghịch ngợm, tính hơi nhát và ngô nghê chẳng biết gi ngoài chuyện học hành. Tôi cũng như nhiều bạn nam rất thích ra chơi và tắm ở sông Ly, nước sông rất xanh, thi thoảng lại thấy một chiếc thuyền lướt nhẹ ,trên thuyền có những chú chim sếu chuyên mổ bắt cá cho chủ thuyền . Đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi cái món cháo trắng ăn với calathau mỗi buổi sáng, hễ có dịp đến Trung Quốc là tôi lại mua một ít calathau đem về ăn và gửi tặng các bạn cùng lớp thời Quế lâm. Kỷ niệm tôi còn nhớ mãi đó là buổi đưa tiễn cô Quế về Nam Ninh tại nhà ga Quế lâm, kỉ niệm đó tôi đã ghi lại trong bài viết về cô giáo thân yêu của lớp 5 chúng mình. Những tháng năm đó để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời mỗi chúng ta sau này. Tôi coi đó như là một "tia chớp của số phận" mình vậy, chuỗi ngày tháng của tuổi thơ ấy là những bước đi chập chững đầu đời tạo nên tính cách con người tôi trong suốt cuộc đời sau này.
Sau khi trở về nước năm 1957 , tôi và nhiều bạn khác theo học cấp ba tại trường Chu văn An . Sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, năm 1961 tôi theo học lớp tiếng trung ở trường ngoại ngữ Gia Lâm, tháng 9 năm 1961 thì sang học tại khoa ngữ văn trương Đại học Bắc Kinh Trung Quốc, cùng học với Ngọc Trâm. Học với nhau một thời gian thì bạn Trâm bị ốm phải trở vè nước, ngày bạn ấy chia tay chúng tôi còn mang hoa đến tặng. Sau 5 năm dùi mài sách vở, học chuyên về hán ngữ và văn học Trung Quốc tôi cứ đinh ninh sẽ về công tác ở viện ngôn ngư chỗ ban Trâm, nhưng không ngờ tháng 11 năm 1966 tôi được Đại Sứ Trần Tử Bình chọn làm phiên dịch cho Sứ quán . Thế là tôi trở thành nhân viên Ngoại giao và bắt đầu cuộc đời đi sứ liên miên, làm cán bộ phiên dịch rồi chuyến sang cán bộ nghiên cứu. Năm 1992 tôi được đề bạt làm Vụ trưởng vụ Trung Quốc của Bộ Ngoại giao, sau đổi thành Vụ Đông Bắc Á . Tôi giữ chức vụ này suốt chục năm sau đó cho tới khi nghỉ hưu năm 2007. Trong 40 năm làm nghề ngoai giao tôi đã 3 lần đi sứ Bắc kinh , làm Tùy viên, rồi Bí thứ 3 , lân sau cùng ở TQ là Tham tán Công sứ (1988-1990 ). Năm 1996 tôi được Nhà nước cử làm Đại Sư Đặc mệnh toàn quyền tai Malaysia trong 4 năm, đến năm 2003 khi làm Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á thì tôi lại được cử sang Đài Loan làm Chủ nhiệm văn phòng Kinh tế Văn hóa của VN ở Đài bắc . Năm 1971 tôi lập gia đình, điều hơi bất ngờ là Vợ tôi Nguyễn Hồng Liên lại có anh trai là Nguyễn Ngọc Tiến học trò lớp 3A Quế Lâm, Anh đã hy sinh cùng mấy người bạn nữa đều là học trò Quế Lâm khối 3, khi đó Anh là phi công lái máy bay trực thăng tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ trên bàu trời Hà Nôi năm 1967.
Hơn 40 năm theo nghiệp Ngoại giao, tôi gần như tập trung toàn bộ sinh lực vào công việc theo dõi, nghiên cứu về đất nước Trung Quôc - người láng giềng khổng lồ ở phía bắc, đất nước mà thuở ấu thơ tôi đã từng sống, ăn học lớn lên rồi làm việc nhiều năm tai đó, tôi cũng là người trực tiếp tham gia vào việc xử lý mối quan hệ VIETNAM-TRUNG HOA đày thăng trầm.Tôi đã dến với nhiều nước trên thế giơi tư Âu sang Á, từ Nga đên Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam á, nhưng Trung Quốc vẫn là nơi tôi có nhiều duyên nợ nhất. Tôi đã sống ở đó trong những thời kỳ quan hệ hai nước tốt đẹp nhất, cảm nhận rõ tấm lòng hào hiệp của người dân Trung Quốc mặc dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành một phân cơm áo chi viện cho cuộc chiến chông Mỹ giành độc lập thống nhất của nhân dân Việt nam, tôi cũng tận mắt chứng kiến những phong ba bão táp của cuộc "cách mạnh văn hóa" cướp đi sinh mang hai chục triệu người dân, cuộc đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên An môn năm 1989, và đã trải qua những tháng ngày căng thẳng khi chính người "đồng chí anh em " này đã đưa 60 vạn quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phia bắc của Việt nam tháng 2/1979.
Cuộc đời tôi đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm. Có lúc tôi được ngồi trên ghế cao bên cạnh nhà Vua của nước láng giềng Malaysia khi được Chủ tịch nước trao cho danh hiệu cao quý là Đai sứ, người đại diện tối cao của nhà nước Việt Nam , có khi lại đầu tắt mặt tối cùng những đồng nghiệp miệt mài dich bản tuyên bố của Chính Phủ ta lên án Bành trướng phương bắc đem quuân xâm lấn Việt Nam. Cũng có nhiều dịp tôi được rong chơi thăm thú những thắng cảnh lừng danh cua Paris ,Tokio , Washington nhưng cũng có những đêm dài tôi trằn trọc, âm thầm buồn bã trước nối đau của một cô dâu người Việt bị ngược đãi trên hòn đảo Đài loan khi tôi là người Đại diện của Việt Nam tại đó.
Nhưng trải qua tất cả những thăng trầm, những đảo lộn khó lường trước được đó, tôi vẫn bình thản để đến với tuổi già. Nghỉ hưu rồi, như các cụ xưa vẫn nói : "Vô quan nhất thân khinh " (Không còn quan chức, một đời nhẹ tênh).Sau những ngày tháng cần mẫn làm việc, nay đã đến lúc " Giải giáp quy điền", tôi luôn cảm nhận đước sự thanh thản, và có đôi chút "mãn nguyện" vì mình đã không làm điều gì hổ thẹn với tổ quốc, với nhân dân . Nay trở về với cuộc sông bình dị tôi cảm thấy thật an lòng. Người xưa đã nói : " Nhân đáo vô cầu, phẩm tự cao " (con người khi đã tới lúc không còn đòi hỏi gì nữa thì phẩm hạnh sẽ trở nên thanh cao ) quả đúng không sai.
Trong cuộc sống, điều đáng sợ nhất không phải là sợ bị mất của cải, tiền bạc, chức tước mà chính là sợ bị mất lòng tin ở cuộc sống, ở vào tuổi "cổ lai hy" điều này càng có ý nghĩ hơn. Cũng như các bạn khác, vào tuổi già rồi tôi luôn yêu quý trân trọng cuộc sống hơn, không phải bởi quỹ thời gian mỗi ngày một ít đi mà bởi chính là niềm tin với cuộc sống .
Như người đời thường nói :
Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
Đó cũng chính là tâm nguyện của tôi.
Trong những ký ức về cuộc đời mình, tôi luôn nhớ về một thời thơ ấu, nhớ về mái trường thiếu nhi Quế Lâm. Đó là những ngày tháng đẹp ,trong sáng của tuổi thơ, của tình bạn thắm đẵm nhưng tình cảm thân thiết vô tư. Bây giờ mỗi khi nghĩ về nhưng kỉ niệm đó , nhớ về mái trường xưa ấy tôi như thấy ở đâu đó :
Những hình bóng bạn bè thuở ấy
Sao không bao giờ nhạt phai?
Tình bạn thân thiết hồn nhiên ấy theo chúng tôi đi suốt những năm tháng của cuộc đời, làm sao lại nhạt phai được chứ , sẽ chẳng bao giờ nhạt phai đâu.
Thời gian cứ lặng lẽ qua đi , tôi như đang bồng bềnh trôi trong khúc cuối của dòng sông cuộc đời . Giờ đây trong cuộc sống bình thản này :
" Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
cùng với anh em tìm đến mọi người.."
Tôi sẽ mãi như thế và cùng với các bạn một thời Quế lâm của mình, chúng tôi sẽ sát cánh bên nhau, cùng nhau hát ca để luôn thấy :
".. Tiếng cười rộn rã bay ".
Công Lý tháng 6 năm 2013
VỀ THĂM MÁI TRƯỜNG XƯA
Về thăm trường cũ không em
Dòng sông Ly vẫn êm đềm trôi xuôi.?
Quế Lâm ngày ấy đâu rồi
Còn trong ký ức một thời khó phai
Đi tìm ai, có thấy ai
Những bè bạn tháng năm dài bên nhau
Vẫn màu hoa thắm Trúc đào
Vẫn tình bằng hữu thuở nào ấu thơ
Dòng đời trôi, một giấc mơ
Mái trường xưa giục lời thơ tuôn trào.
Trở về với nỗi ước ao
Quế Lâm trường cũ ấm sao tình người.
Công Lý 25 tháng 8 năm 2010
Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013
Sống thực
SỐNG THỰC HAY CHỈ "GẦN NHƯ LÀ SỐNG"
Tôi biết là Bạn đang sống đấy, nhưng đã có bao giờ bạn tự hỏi là mình đang "Sống thực" hay chỉ "Gần như là sống".? Cụm từ "Gần như là sống " không phải do tôi nghĩ ra mà đó là tên một cuốn sách của ĐỖ PHẤN . Ông vốn là một họa sỹ khá nổi tiếng nhưng vài năm gần đây lại nhảy sang viết văn. Điều lạ là những cuốn sách của ông khá hấp dẫn người đoc. Ông chuyên viết về đời sống chốn đô thị, viết về những thân phận trôi giạt trong cái "nhàu nhĩ phố phường", những công chức hạng xoàng loay hoay kiếm sống để nuôi vợ con từ vùng quê chuyển lên, những bác xích lô cuộc đời lam lũ, và có cả những kẻ bần cùng tứ chiếng, ma túy xì ke, những ả làm tiền..Họ sống ở những ngóc ngách của Hà thành tạo nên một lớp "cặn bã " đô thị..Cuộc sống thực của những hạng người này đươc ĐỖ PHẤN mô tả khá tỷ mỷ, nhiều lớp lang, góc cạnh và qua sự tả thực của ông, họ không phải đang sống mà chỉ đang "GẦN NHƯ LÀ SỐNG" thôi. Vậy thế nào mới là sống thực? câu hỏi đó Tác giả đã không trả lời mà dành cho độc giả. Tôi là một trong số độc giả đó và vẫn đang loay hoay với câu hỏi " Bạn đã sống thực chưa"?
Sáng sớm ngày thứ bảy đầu tháng sáu, bàu trời trong xanh không một gơn mây ,tôi bỗng nảy ra ý định đi chơi xa một chuyến để có cơ hội trải nghiệm cái gọi là "sống thực ". Tôi nhảy lên chiếc xe đạp vốn dùng hàng ngày và đạp thẳng về phía Hồ Tây. Sáng sớm trời mát xe còn khá tốt nên chả mấy chốc tôi đã qua con phô Lạc long quân và thế là chạm ngay đến mép nước Hồ Tây. Phía trước măt tôi trên mặt hồ là một đám sen dày đặc. Trời mây, mặt nước hồ lung linh và những búp sen hồng vươn lên trong nắng sớm tạo nên một bức tranh thật đep, thật kỳ ảo, thật ấn tượng, một cảm giác sảng khoái, lâng lâng tràn ngập lòng tôi. Tôi thấy từ trong đám sen ấy có một chiếc thuyền lướt đi, trên thuyền mấy cô gái trẻ đang ôm những bó sen màu hồng tỏa hương thơm dìu dịu. Khi lên bờ thấy tôi đứng bên chiếc xe đạp, một cô gái trẻ măng biếu tôi mấy búp sen, cầm trên tay chưa kịp nói lời cám ơn thì mấy cô gái ấy đã chạy như bay về phía chiếc xe con đỗ gần đó để lại trong gió những tiếng cười ròn rã. Tôi còn nghe vẳng bên tai tiếng một cô gái trong dám trẻ ấy
" Ông đem về nhớ lấy nhụy sen để ướp trà uống thơm lắm ông ạ ". Bỗng chốc tôi nhận ra mấy cô bé ấy hẳn là dân Hà Nôi đích thị, nếu không làm sao biết cách uống trà ướp sen của dân Hà Thành chứ. Trên đương về nhà tôi cứ nghĩ , thế này chả phải là đang "sống thực" đó sao. Có lẽ với tôi sống thưc tức là sống theo cách của mình, theo ý thích, ý định của mình, không lệ thuộc vào người khác, không sống theo cách cua người khác. Đơn giản thế thôi !
Còn nhớ mấy hôm trước gặp nhau tại nhà hàng Chiếu hoa, tôi cứ há hốc mồm mà nghe câu chuyện "PHƯỢT" hết sức ly kỳ của Cụ Thế Long, đám dân Cầu Ngà chung tôi chẳng ai là không phục sát đất khi nghe câu chuyện về người " ANH HUNG SA LỘ" ấy cả. Một " cặp đôi hoàn hảo ", Cụ Long và cụ Bà chỉ với chiếc xe máy vào loại "cổ lai hy" , trang bị khá đơn sơ, ba lô khoác áo đã sờn vai, một ít thực phẩm dự trữ, bánh lương khô, nước uống và hai tâm hồn trẻ trung, hừng hực khí thế đã bất chấp mọi khó khăn, gian khổ và cả hiểm nguy để vươt qua chặng đường HA NÔI -MÔC CHÂU -TUÂN GIÁO-SƠN LA-ĐIÊN BIÊN chưng 1600 cây sô, vươt qua bao đèo dốc cheo leo, qua cả những đỉnh núi chót vót cách măt biển tới nghin met. Dọc đường đi có khi lạc lối, có lúc hỏng xe, tự tìm đường, tự vá xe, hai Cụ vẫn sát cánh bên nhau, mốt tình bền chặt keo sơn suốt mấy chuc năm đã tạo nên sức mạnh phi thường đưa hai Cụ vượt qua muôn vàn thách thức, hiểm nguy để đến với đỉnh cao chói lọi của niền tin vào cuộc sống hôm nay. Chuyến "PHƯƠT" đày kỳ thú này đã chưng minh một chân lý giản đơn nhưng ý nghĩa vô cùng sâu xa : Không có giơi han nào mà con người không thể vượt qua. Đó chẳng phải là "sống thưc" hay sao? Triết lý rất đơn giản : sông theo cách của chính mình, đó chính là sống thực.
Tôi đang định dừng bài viết thì nhận được cú điện thoại của Cụ Tú Riềng, thật bất ngờ Cụ báo tin cho tôi hay Cụ đã sắm cái APAT đời mới nhất, cụ cười rất sảng khoái và nói oang oang trong điện thoại, " tư nay HAI LÚA này chẳng còn phải phiền lụy gì đên vợ con nữa, tha hồ lướt vep, chít chát thoải mái, xem phim xem ảnh mặc sức." Cụ kể chuyện đi sắm APAT khiến tôi cười đến tức bụng,Cụ bảo " Mình đã Hai lúa, đên mua của nó, nó lại còn "hai lúa "hơn cà mình" Tôi thì thầm nghĩ ,còn phải tìm đâu xa nữa, đó đích thị là "sống thực" rôi còn gì nữa.
Còn các Cụ thì sao? đã sống thực đích thị chưa ?
Chủ nhật 9/6/2013
Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013
BẠN BÈ TÔI
Một ngày hè nóng bức, tôi trở về với mảnh vườn ao cá, cố tránh cái hơi nóng chang chang bốc lên từ những ngôi nhà bê tông sừng sững giưa phố phừơng Hà thành. Tầm 9 giơ sáng, tôi đang loay hoay với cái vòi nước để tưới cho đám cây đã bị héo khô thì bỗng nhiên ngoài cổng có tiếng chú chó sủa, nghe tiếng sủa của nó tôi biết ngay là sắp có khách quen, chạy ra cổng thì hóa ra Cụ Tú Riêng và một anh bạn của Cụ ghé chơi. Tôi mở cửa rước Cụ vào, chú chó vẫy đuôi mừng rối rit. Hôm nay Cụ đôi mũ lưỡi chai, diên cái áo phông đỏ chót trông ra dáng dân Sport. Cụ cười hề hề, buông cặp kính đen Cụ bảo " Trên này mát thât, chả trách ông Lý cứ ở lỳ chỗ này, tìm mãi chả thấy ". Sáng nào tôi cũng hãm một ấm chè xanh, tiện thể bèn rót ra mấy cái cốc mời 2 vị khách. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn giả gỗ ngay sát mép hồ. Hớp một ngụm nước chè Cụ bảo " Đang đau hết cả đầu đây !" .Tôi bảo lại " Nội chiến" chứ gì ? Cụ không trả lời, cứ nhìn mãi ra mảnh vườn đày cây xanh bóng mát của tôi rồi gật gù " Kiểu này chắc phải học cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm :Ta dại ta tìm nới vắng vẻ/ Người khôn, người kiếm chỗ lao xao ...cho xong." . Thấy Cụ hôm nay có vẻ nhiều tâm tư, tôi định bụng sẽ từ từ trò chuyện hy vọng may ra "hạ hỏa" được phần nào nỗi buồn bực của Cụ chăng.
Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với Cụ, không ngờ Cụ lại rất hào hứng cứ như là Cụ lên đây với tôi chỉ cốt để thổ lộ bao nhiêu nỗi bưc xúc, buồn bực dồn nén lâu nay trong lòng Cụ vậy ! Có lần ngồi nhâm nhi cà phê với Calathau ở cái quán "WIN WIN" gần nhà Cụ Tú chúng tôi đã bàn đến lai lịch của cái tên " TÚ RIỀNG " nghe rất dân dã lại gần gũi thân thiết ấy. Chả nói thì ai cũng biết Cụ nay là đương kim PCT kiêm TTK Hôi "Cầu
Ngà"( giờ đã đổi "quán hiệu" sang Chiếu Hoa.). Bởi thế cái tên Tú Riềng rất hợp với Cụ và trở nên quen thuộc với mọi người. Trong khôi 5 LS-QL của chúng ta có lẽ ai cũng thích trò chuyện với Cụ, có khi chỉ là tán gẫu dăm ba câu chuyện đời thường nhưng hễ Cụ có mặt là câu chuyên sôi nổi, rôm rả hẳn lên, mỗi lân hop lớp liên hoan , chè chén chẳng bao giơ vắng được Cụ. Nhóm Cầu Ngà thì khỏi phải nói, Cụ luôn là nguồn cảm hứng bất tân cho chúng bạn, bởi đâu chỉ có cạn chén nâng ly, khi thưởng thức cái món khoái khẩu cày tơ, mỗi lân nâng chén Cụ lai ê a đọc mấy câu thơ của Calathau viết về cái thú mỗi khi đến với món "Quốc hồn, Quốc túy " ấy khiến mọi người không nhịn được tiếng cười.
Cụ Tú Riềng không làm thơ , nhưng Cụ có cái tài lẻ là đọc thơ của bạn bè, của người khác cực hay, cực bốc và vô cùng hấp dẫn cứ như là thơ là của Cụ còn tác giả bài thơ dù là ai đó cũng chỉ là người chép hộ mà thôi ! Tôi được biết đến bài thơ "thế sự" nổi tiếng của Vũ Hồng Quang có tựa đề "Bài ca tôi vẫn hát" cũng là nghe Cụ Tú đọc trong lúc ngồi với nhau ở cái quán "Win Win" ấy. Cụ Tú còn một biệt tài nữa là Kể chuyện rất có duyên, lời lẽ thì giản di, phong thái thì dân dã,có chút hài hước, nhiều khi như hút hồn người nghe, chẳng phải chỉ các cụ ông mà ngay các Cụ Bà cũng có cảm nhận ấy.
Nhưng ấn tương sâu đậm nhất Cụ để lai trong lòng tôi và nhiều bè bạn khác nữa đấy chính là tình cảm chân thành ,sâu lắng đối với bạn bè của Cụ. Cụ luôn quan tâm hỏi han ,đông viên ban bè mỗi khi nghe tin bạn gặp khó, sức khỏe suy giảm. Cứ gặp tôi là Cụ hỏi " vẫn còn sống đấy chứ ?" Cụ cười khà khà rồi bảo " tao với mày chưa đi được đâu, đời còn nhiều cái hay lắm phải nán lại mà sống chứ ". Đấy ,Cụ là thế, sống lạc quan yêu đời , nhiều khi cái vẻ yêu đời ,bất cần của Cu truyền sang cả tôi , Quang Trung, và Trung Hải nữa. Vì thế mỗi lần chúng tôi găp nhau đều khó tránh đươc việc cạn chén nâng ly để " cho quên sự đời" như Cụ vẫn thường nói.
Lúc này nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Cụ, tôi gợi ý " Hồi này lên mạng cứ thấy mấy ông quan chức cỡ bự có vẻ thich nói đên " TÂM NHÌN" lắm thì phải, vậy Cụ thấy thế nào ?". Như được gãi đúng chỗ ngứa, Cụ bèn nói liền một mạch :
Chuyện về "tầm nhìn" chả phải nói đâu xa, xảy ra ngay trước cổng nhà Tú tôi. Chả là Quận , Phường gì đó chiếu cố đến dân mới bày ra một "Dự án" sửa đường và ống dẫn nước ở khu dân cư nơi tôi sinh sống. " Dự án" được thiết kế rồi thi công có vẻ chính quy lắm. Một hôm mấy công nhân đang say sưa làm việc ,thì bỗng nhiên có ông già bên nhà láng giềng chạy ra, khoa chân múa tay, nói với mấy công nhân là phải "nâng cốt " lên nữa làm thế mới đẹp , mới bền. Cụ Tú biết rõ ông ta nói thế chẳng qua là muốn nâng cao mặt.đường để nước khỏi chảy vào nhà mình, nhưng lại cứ làm ra vẻ ta đây chỉ đạo! Tức quá Tú tôi mới bảo thẳng với ông hàng xóm ấy : " Này tôi với ông quy hoạch rồi, tầm nhin dài lắm cũng chỉ đến 2014 thôi, thế mà ông lại phóng cái Tầm nhìn tới mãi 2050 ! Thôi đi , liệu ông còn đến lúc ấy không? Can thiệp vào chuyện của Quận của Phường làm gi nữa ông ơi !?" . Cũng tưởng thế là qua, ai ngờ đúng 2 hôm sau đã thấy bên nhà ông hàng xóm ấy dán cái cáo phó " Vô cùng thương tiếc" !
. Cụ Tú bảo, các ông quan tai to mặt lớn cũng thế thôi, ông nào cũng cư huênh hoang, nào là " Tầm nhin 2020 ", nào là " tầm nhìn 2050" vài ngày sau đã thấy thông báo " Vô cùng thương tiếc "..
Nói về tâm thái , cách ứng xử của các " Quan phụ mẫu " thời nay, Cụ Tú đã đúc kết trong một đoản ngữ như là văn bia vậy. Đó không gị khác hơn là "Đi nhẹ, nói khẽ, cười tươi, cầm tinh con Gián người người noi theo. " Ngẫm ra thật chí lý chẳng cần giải thích gì hơn. Nói đến đấy Cụ bảo, cuộc sống bây giơ khác ngày trước lắm, người ta cư bảo " Ở hiền gặp lành " bây giờ thì cứ phải "liều" vì có " Ở liều mới gặp lành ", sống bây giờ Phải "táo bạo " vì có "táo bạo mới tạo được niêm tin " . Nhưng mà bây giơ còn biết tin ai nữa chứ !.
Uống trà mãi cũng ớn, tôi và Cụ bèn xoay sang " Cạn chén nhâm nhi, cho cuộc đời hoành tráng lâm ly " Cụ Tú bảo thế. Uống xong vài ly rươu quê có pha thuốc Cu Mao tặng Cụ Hồ, cụ đeo lại chiếc kính "dâm" rồi nói như ra lệnh " Thôi bây gìơ đi thư giãn ". Tôi bảo "Thế còn chuyên nhà chuyện cửa, chuyên vợ chuyên con ?".Cụ lắc đầu bảo "Chuyện ấy để khi khác ta hãy bàn.". Vậy là tôi hẹn Cụ lần sau lên đây chúng tôi sẽ trò chuyện tiếp ,còn bây giờ thì như Cụ nói :
" Tôi muốn xa lánh chuyện đời
Tôi muốn quên đi loài người... "
Nhưng liệu Cụ có quên đi được không ?
Công Lý ghi tại nhà vườn 24/5/2013
TRÒ CHUYỆN CÙNG CỤ TÚ RIỀNG
Một ngày hè nóng bức, tôi trở về với mảnh vườn ao cá, cố tránh cái hơi nóng chang chang bốc lên từ những ngôi nhà bê tông sừng sững giưa phố phừơng Hà thành. Tầm 9 giơ sáng, tôi đang loay hoay với cái vòi nước để tưới cho đám cây đã bị héo khô thì bỗng nhiên ngoài cổng có tiếng chú chó sủa, nghe tiếng sủa của nó tôi biết ngay là sắp có khách quen, chạy ra cổng thì hóa ra Cụ Tú Riêng và một anh bạn của Cụ ghé chơi. Tôi mở cửa rước Cụ vào, chú chó vẫy đuôi mừng rối rit. Hôm nay Cụ đôi mũ lưỡi chai, diên cái áo phông đỏ chót trông ra dáng dân Sport. Cụ cười hề hề, buông cặp kính đen Cụ bảo " Trên này mát thât, chả trách ông Lý cứ ở lỳ chỗ này, tìm mãi chả thấy ". Sáng nào tôi cũng hãm một ấm chè xanh, tiện thể bèn rót ra mấy cái cốc mời 2 vị khách. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn giả gỗ ngay sát mép hồ. Hớp một ngụm nước chè Cụ bảo " Đang đau hết cả đầu đây !" .Tôi bảo lại " Nội chiến" chứ gì ? Cụ không trả lời, cứ nhìn mãi ra mảnh vườn đày cây xanh bóng mát của tôi rồi gật gù " Kiểu này chắc phải học cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm :Ta dại ta tìm nới vắng vẻ/ Người khôn, người kiếm chỗ lao xao ...cho xong." . Thấy Cụ hôm nay có vẻ nhiều tâm tư, tôi định bụng sẽ từ từ trò chuyện hy vọng may ra "hạ hỏa" được phần nào nỗi buồn bực của Cụ chăng.
| Cụ Tú Riềng đang trả lời phỏng vấn |
Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với Cụ, không ngờ Cụ lại rất hào hứng cứ như là Cụ lên đây với tôi chỉ cốt để thổ lộ bao nhiêu nỗi bưc xúc, buồn bực dồn nén lâu nay trong lòng Cụ vậy ! Có lần ngồi nhâm nhi cà phê với Calathau ở cái quán "WIN WIN" gần nhà Cụ Tú chúng tôi đã bàn đến lai lịch của cái tên " TÚ RIỀNG " nghe rất dân dã lại gần gũi thân thiết ấy. Chả nói thì ai cũng biết Cụ nay là đương kim PCT kiêm TTK Hôi "Cầu
Ngà"( giờ đã đổi "quán hiệu" sang Chiếu Hoa.). Bởi thế cái tên Tú Riềng rất hợp với Cụ và trở nên quen thuộc với mọi người. Trong khôi 5 LS-QL của chúng ta có lẽ ai cũng thích trò chuyện với Cụ, có khi chỉ là tán gẫu dăm ba câu chuyện đời thường nhưng hễ Cụ có mặt là câu chuyên sôi nổi, rôm rả hẳn lên, mỗi lân hop lớp liên hoan , chè chén chẳng bao giơ vắng được Cụ. Nhóm Cầu Ngà thì khỏi phải nói, Cụ luôn là nguồn cảm hứng bất tân cho chúng bạn, bởi đâu chỉ có cạn chén nâng ly, khi thưởng thức cái món khoái khẩu cày tơ, mỗi lân nâng chén Cụ lai ê a đọc mấy câu thơ của Calathau viết về cái thú mỗi khi đến với món "Quốc hồn, Quốc túy " ấy khiến mọi người không nhịn được tiếng cười.
Cụ Tú Riềng không làm thơ , nhưng Cụ có cái tài lẻ là đọc thơ của bạn bè, của người khác cực hay, cực bốc và vô cùng hấp dẫn cứ như là thơ là của Cụ còn tác giả bài thơ dù là ai đó cũng chỉ là người chép hộ mà thôi ! Tôi được biết đến bài thơ "thế sự" nổi tiếng của Vũ Hồng Quang có tựa đề "Bài ca tôi vẫn hát" cũng là nghe Cụ Tú đọc trong lúc ngồi với nhau ở cái quán "Win Win" ấy. Cụ Tú còn một biệt tài nữa là Kể chuyện rất có duyên, lời lẽ thì giản di, phong thái thì dân dã,có chút hài hước, nhiều khi như hút hồn người nghe, chẳng phải chỉ các cụ ông mà ngay các Cụ Bà cũng có cảm nhận ấy.
| Hai ông bạn già bên bờ ao |
Nhưng ấn tương sâu đậm nhất Cụ để lai trong lòng tôi và nhiều bè bạn khác nữa đấy chính là tình cảm chân thành ,sâu lắng đối với bạn bè của Cụ. Cụ luôn quan tâm hỏi han ,đông viên ban bè mỗi khi nghe tin bạn gặp khó, sức khỏe suy giảm. Cứ gặp tôi là Cụ hỏi " vẫn còn sống đấy chứ ?" Cụ cười khà khà rồi bảo " tao với mày chưa đi được đâu, đời còn nhiều cái hay lắm phải nán lại mà sống chứ ". Đấy ,Cụ là thế, sống lạc quan yêu đời , nhiều khi cái vẻ yêu đời ,bất cần của Cu truyền sang cả tôi , Quang Trung, và Trung Hải nữa. Vì thế mỗi lần chúng tôi găp nhau đều khó tránh đươc việc cạn chén nâng ly để " cho quên sự đời" như Cụ vẫn thường nói.
Lúc này nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Cụ, tôi gợi ý " Hồi này lên mạng cứ thấy mấy ông quan chức cỡ bự có vẻ thich nói đên " TÂM NHÌN" lắm thì phải, vậy Cụ thấy thế nào ?". Như được gãi đúng chỗ ngứa, Cụ bèn nói liền một mạch :
Chuyện về "tầm nhìn" chả phải nói đâu xa, xảy ra ngay trước cổng nhà Tú tôi. Chả là Quận , Phường gì đó chiếu cố đến dân mới bày ra một "Dự án" sửa đường và ống dẫn nước ở khu dân cư nơi tôi sinh sống. " Dự án" được thiết kế rồi thi công có vẻ chính quy lắm. Một hôm mấy công nhân đang say sưa làm việc ,thì bỗng nhiên có ông già bên nhà láng giềng chạy ra, khoa chân múa tay, nói với mấy công nhân là phải "nâng cốt " lên nữa làm thế mới đẹp , mới bền. Cụ Tú biết rõ ông ta nói thế chẳng qua là muốn nâng cao mặt.đường để nước khỏi chảy vào nhà mình, nhưng lại cứ làm ra vẻ ta đây chỉ đạo! Tức quá Tú tôi mới bảo thẳng với ông hàng xóm ấy : " Này tôi với ông quy hoạch rồi, tầm nhin dài lắm cũng chỉ đến 2014 thôi, thế mà ông lại phóng cái Tầm nhìn tới mãi 2050 ! Thôi đi , liệu ông còn đến lúc ấy không? Can thiệp vào chuyện của Quận của Phường làm gi nữa ông ơi !?" . Cũng tưởng thế là qua, ai ngờ đúng 2 hôm sau đã thấy bên nhà ông hàng xóm ấy dán cái cáo phó " Vô cùng thương tiếc" !
. Cụ Tú bảo, các ông quan tai to mặt lớn cũng thế thôi, ông nào cũng cư huênh hoang, nào là " Tầm nhin 2020 ", nào là " tầm nhìn 2050" vài ngày sau đã thấy thông báo " Vô cùng thương tiếc "..
Nói về tâm thái , cách ứng xử của các " Quan phụ mẫu " thời nay, Cụ Tú đã đúc kết trong một đoản ngữ như là văn bia vậy. Đó không gị khác hơn là "Đi nhẹ, nói khẽ, cười tươi, cầm tinh con Gián người người noi theo. " Ngẫm ra thật chí lý chẳng cần giải thích gì hơn. Nói đến đấy Cụ bảo, cuộc sống bây giơ khác ngày trước lắm, người ta cư bảo " Ở hiền gặp lành " bây giờ thì cứ phải "liều" vì có " Ở liều mới gặp lành ", sống bây giờ Phải "táo bạo " vì có "táo bạo mới tạo được niêm tin " . Nhưng mà bây giơ còn biết tin ai nữa chứ !.
Uống trà mãi cũng ớn, tôi và Cụ bèn xoay sang " Cạn chén nhâm nhi, cho cuộc đời hoành tráng lâm ly " Cụ Tú bảo thế. Uống xong vài ly rươu quê có pha thuốc Cu Mao tặng Cụ Hồ, cụ đeo lại chiếc kính "dâm" rồi nói như ra lệnh " Thôi bây gìơ đi thư giãn ". Tôi bảo "Thế còn chuyên nhà chuyện cửa, chuyên vợ chuyên con ?".Cụ lắc đầu bảo "Chuyện ấy để khi khác ta hãy bàn.". Vậy là tôi hẹn Cụ lần sau lên đây chúng tôi sẽ trò chuyện tiếp ,còn bây giờ thì như Cụ nói :
" Tôi muốn xa lánh chuyện đời
Tôi muốn quên đi loài người... "
Nhưng liệu Cụ có quên đi được không ?
Công Lý ghi tại nhà vườn 24/5/2013
Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013
CHÚT LÃNG MẠN GIỮA MÙA HÈ
Hà Nội vào hè đã lâu và hôm nay đang trong cái nắng chói chang của mùa hè. Đi trên con phố thân quen, phố Nguyễn Du bất chợt tôi thấy mấy cây hoa phượng đỏ rực bên lề đường, tuy chỉ có vài cây nhưng cái sắc đỏ của hoa phượng nổi lên trên bạt ngàn màu xanh của cây lá nên vẫn rất cuốn hút. Lúc này nghe râm ran tiếng ve kêu, bỗng dưng tôi nhớ lại thời thơ ấu , nhớ về năm học cuối cùng của một thời " phượng hồng". Thảo nào người ta cứ gọi Hoa phượng là " Hoa học trò".
Tôi ghé vào một quán ca phê ngay trên con phố này, sắc đỏ của những cánh hoa phượng vẫn ám ảnh trong tâm trí tôi, tiếng nhạc đâu đó vang lên. Khi chàng trai phục vụ của nhà hàng đem cốc cà phê đến cho tôi, nhìn về dãy hoa phượng phìa trước mặt, tôi ghé tai anh bạn nói nhỏ : "cho nghe bài hát 'Hoa học trò ' đi ". Anh bạn đáp ứng ngay, thế là lập tức giai điệu nhẹ nhàng êm dịu cùng những lời ca mượt mà vang lên bên tai tôi :
Bây giờ còn nhớ hay không
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa..
Bao giờ cho đến ngày xưa nhỉ ? câu hỏi chẳng bao giơ có lời đáp , nhưng cái thời "ngày xưa " của tuổi học trò ấy đã dễ mấy ai quên. Tôi lặng lẽ nghe tiếp câu chuyện của hai cô cậu học trò thơ ngây với chùm hoa phựơng trong tay họ :
... Ngây thơ em rủ anh ra
Bảo nhặt hoa phượng về nhà chơi chung
Cô học trò nhỏ thì như vậy, còn chàng trai đang tuổi mộng mơ thì :
...Anh đem cánh phượng tô hồng má em
Để cho em đẹp như tiên....
Nhưng..
Em không chịu ,sợ phải lên trên trời
Lên trời hai đứa hai nơi
Thôi em chỉ muốn làm người trần gian...
Cô gái chẳng muốn lên trời thành tiên, chỉ muốn ở lại trần gian để khỏi phải xa người bạn mà hình như đã để lại chút gì đó tựa như là tình yêu đầu đời trong trái tim còn non nớt của cô.
Câu chuyện của họ bất giác làm tôi hồi tưởng lại cái thời 'phượng hồng" ấy. Đó là vào năm lớp 10 ở trương Chu Văn An. Lúc đó tôi chỉ là một chàng trai ngây ngô, mang cái tên "ngố Tàu" vì mới bên đất Tàu trở về mà. Nhưng dù ngô nghê đến đâu thì một chàng trai mới lớn như tôi cũng không thể nào hờ hững trước những tà áo trắng của các nữ sinh hoc cùng trường.
Quanh trương Chu văn An khi đó tôi nhớ cũng có nhiều hoa phượng lắm, mà học sinh con trai thì rất thích hái mấy cành hoa phượng đỏ ấy để tặng cho các bạn gái cùng lớp. Khổ cái tôi lại nhát gái và rất sợ giáp mặt với mấy cô bạn cung lớp vừa bằng tuổi mình lại quá già dặn trong đường đời. Thế là tôi bèn để mắt tới mấy cô học trò ở lớp dưới. Hồi ấy tôi hay đi theo đường CỔ NGƯ để đến trường. Một lần tan trường trên đường trở về nhà tôi bắt gặp một cô gái cùng đi với em gái tôi đên trương Chu văn An.
Hồi đó cấp 3 chúng tôi học buổi sáng còn cấp 2, lớp 7 thì học buổi chiều . Tôi để ý ngay đến cô gái ấy. Thực ra thì cô học trò ấy cũng không có gì đặc biệt cho lắm, một dáng dấp thanh mảnh, mái tóc để xõa trên vai, vẻ đẹp hồn nhiên, chỉ riêng có nụ cười là có vẻ bí ẩn lắm. Qua em gái mình tôi biết tên cô học trò ấy là Hoa. Tên nghe cũng bình dị , không biết là tên Hoa thì thích loài hoa gì, tôi cứ vẩn vơ nghĩ hoài rôi tự cho là chắc cô bé ấy cũng thích hoa phượng như mọi cô nữ sinh khác thôi. Thế là tôi tìm cách làm quen, hái một chùm hoa phượng định bụng sẽ tặng cho cô ấy. Nhưng thật không may cho một "chàng khờ" như tôi.
Hôm đó cũng trên đường Cổ Ngư ấy tôi lại bắt găp cô ấy, nhưng lần này cô ấy không đi chung với em gái tôi mà bên cạnh cô là một chàng trai dắt chiếc xe đap Pơ-gio bóng loáng, đáng buồn cho tôi nữa la trên giỏ xe của chang trai ấy đã có sẵn một chùm hoa phượng, tôi lăng lẽ không nói gi, đem chùm hoa phượng đỏ tôi cầm trên tay đưa cho một cô bé trạc mười tuổi mà tôi băt gặp trên đường đi, cô bé con chả hiểu chuyện gì, nhận chùm hoa rôi cười rất tươi. Gía mà nụ cười ấy nở trên môi cô bé học trò của tôi nhỉ ,tôi chỉ ước ao có vậy, nhưng than ôi....
Chuyện thời xa xưa của tôi hóa ra lai rất giống với chàng trai trong bài hát "Hoa học trò" mà giơ đây tôi đang lắng nghe với một tâm tư buồn sâu lắng.
Hôm nay phượng nở huy hoàng
Nhưng từ hai đứa lỡ làng duyên nhau
Rưng rưng phượng nở trên đầu
Tìm em anh biết tìm đâu bây gìơ...
Chàng trai học trò đó không biết đi tìm cô bạn ở đâu, còn tôi nhớ lại chuyện cũ chỉ thấy như một làn gió thoảng qua, tôi cũng chẳng bao giờ đi tìm nàng, và tôi cũng không than vãn như cậu học trò kia :
Bây giờ tìm kiếm nơi đâu ?
Bây giò thì mãi xa nhau..
Tôi vẫn ngồi lặng lẽ ngắm nhưng chùm hoa phượng đỏ rực phía trước và vẫn nghe mãi giai điệu diu êm của bài "Hoa học trò ". Thật khó quên những ký ức môt thơi xa xưa, thời của hoa phượng hồng, thời của "Hoa học trò".
Một ngày hè, 22/5/2013
Công Lý
Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013
VỀ VƯỜN
Một ngày hè oi ả, nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày tìm được mảnh vườn, ao cá làm nơi trú ngụ để tránh cái nóng nực nơi thành thi, tôi trở lai vườn xưa, ngồi một mình trên nhà sàn ,nhấp chén rượu quê bỗng thấy nhớ bạn bè da diết, tức cảnh làm mấy câu thơ :
Về vườn (
Từ ngày thôi việc về vườn
Ngồi chơi xơi nước, tìm đường về quê
Nhà sàn ao cá đề huề
Vườn cây bóng mát trưa hè thảnh thơi
Chén trà xanh nóng bồi hồi
Đầu hè thánh thót chim trời líu lo
Hoa soan rụng trắng sau nhà
Tường vi mấy nụ hương hoa ngạt ngào
Cuộc đời chả sướng đó sao
Sáng ra cuốc đất, tối vào vịnh thơ
Khi nghe nhạc, lúc chơi cờ
Buồn thì nhấp chén đợi chờ trăng lên
Đôi khi bạn cũ ghé thăm
Nhà sàn vui chén rượu cần men say.
Về vườn là thế này đây
Thiên đường chốn ấy nơi này kém chi.
(HN , một ngày hè oi ả 18/5/2013)
----------------------
Ảnh : Quang Trung
Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013
Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2013
THƠ NGẪU HỨNG
Lời dẫn : Buổi trưa ngày 26 tháng tư, 8 bạn Cu lo cùng hội CẦU NGÀ là : HÂN, LÝ ,HÙNG, PHU ,LÂN, HẢI ,NGẠN, HIỆU lại hẹn nhau tới quán CHIẾU HOA chén chú chén anh, thịt cày thơm phức, rượu ngon nâng ly, một phen túy lúy , hồn phách lên mây, chia tay bè bạn trên đường về LÝ tôi y hẹn ghé qua nhà ông ban Nguyên Hân, ông bạn đãi tôi một chầu ảnh NUY rồi tặng tôi cuốn 100 bài ĐƯỜNG THI MEN RƯỢU. Đọc thơ Đường ngay tai nha bạn, cảm hứng dâng lên dào dạt, vội lấy but ghi lại vài câu ngẫm cảnh mình gọi là chút quà nhỏ tặng bạn:
Chủ Nhật, 21 tháng 4, 2013
Thứ Tư, 17 tháng 4, 2013
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)








