Thứ Bảy, 3 tháng 8, 2013

ĐẾN VỚI VẦN THƠ CỦA BẠN

          
                      
      Những lúc buồn rảnh rỗi tôi hay vào mạng đọc thơ của  những người bạn một thời Quế Lâm, những vần thơ rất hay, rất tâm đắc,  ngẫm nghĩ giây lát rồi bình vài câu vào đó,  dù chỉ là những khoảnh khắc ngẫu hứng thoáng qua nhưng đôi khi cảm xúc  lắng đọng, những câu thơ vụn vặt ấy hẳn là sẽ còn theo tôi đi mãi với thời gian :

      Vào Bloc của Calathau, một hôm tôi đoc được mấy câu thơ anh viết và đề tặng Kong Lý :
Lãng đãng mây trời lãng đãng đêm
Phố núi trăng suông rót bên thềm
Cây nghiêng nghiêng bóng che môi khuất
Ta kẻ lạc vào con dốc em

     

Tôi đã  viết và gửi cho anh :

         Cứ để thông reo giữa đại ngàn
         Cứ để mây trôi lãng đãng đêm
         Cho nỗi vui đời dâng cao mãi
         Khi đã lạc vào cõi mộng em.

      Dịp cuối năm ngoái khi tôi vào miền nam thăm bạn bè trong đó, ngồi với nhau ở quán cà phê "Bản Sonata ", Hồng Quang đọc cho tôi nghe mấy câu thơ ngẫu hứng :

          Đêm nay sao thật là dài
          Người đi để một tôi hoài nhớ em
          Rượu nồng có ngấm hơi men
          Tỉnh say có lụy lời khen ngọt ngào
          Một trời đêm vắng trăng sao
          Đò ngang một lá cắm sào đợi ai.

  Ra về đêm ấy tôi nằm thao thức, bất chợt nảy ra vài ý thơ. Hôm sau tôi gửi lại Hồng Quang :
Đêm nay trăng lặn mờ sương
Người đi đi mãi dặm trường xa xôi
Để tôi chỉ một mình thôi
Rượu nồng nhấp chén lòng chơi vơi buồn
Một trời đêm vắng mênh mông
Một hồn thơ giữa hư không mơ màng./.

   Mùa hạ sắp qua, những cơn gió đầu thu đã thổi về , lại nhớ những vần thơ vè mùa thu năm ngoái Hồng Quang đã viết và gợi cảm hứng cho tôi :

        Thu về thay áo cho cây
        Thoa son cho lá, chải mây cho trời
        Thu về từng hạt nắng rơi
        Cho người lặng lẽ nhặt phơi trước thềm
        Bài thơ anh dệt tặng em
        Dọc ngang lục bát sợi mềm như tơ.

Đáp lại tôi cũng chợt nảy ra vài câu  :

          Ngày thu một thoáng heo may
          Nghe thời gian đọng chiều say nắng vàng
          Se se gió gọi mùa sang
          Bâng khuâng nỗi nhớ ngập tràn hồn ta.
          Mây trôi một dáng la đà
          Miên man ký ức nhạt nhòa khói sương.

     Mấy hôm nay trời cư đổ mưa hoài, những hạt mưa rơi rơi như gợi nỗi buồn trong lòng tôi, giờ khắc này sao tôi thấy thời gian trôi đi nhanh thế, nghĩ tới người bạn ở phương trời nam  vô tình lại nhớ mấy câu thơ bạn đã gửi tặng :

           Thời gian cứ lặng lẽ trôi
           Bao nhiêu kỷ niệm cũng rồi nhạt phai
           Người đi góc bể chân mây
           "Nghiêng nghiêng lầu vắng trăng gày riêng soi"
           Hoa vàng một đóa phai phôi
           Ban mai lại đã tinh khôi nụ hồng.

    Mấy câu thơ của anh gợi cho tôi nhiều suy tư. Sáng ra trời vẫn mưa, tôi ngồi bên thềm nhà nâng ly cà phê tự mình pha , lòng rộn lên  những tâm tư muốn chia sẻ cùng anh :

            Cà phê từng giọt rơi rơi
            Thời gian từng giọt dòng đời êm trôi
            Bao nhiêu trải nghiệm qua rồi
            Thấy mong manh một kiếp người gian nan.
            Trước thềm mưa gọi thu sang
            Ly cà phê gợi miên man nỗi buồn./.

  Thời gian như một dòng sông cứ lặng lẽ trôi, tôi vẫn đang bồng bênh trôi trong dòng chảy thời gian ấy :
           
            Quỹ thời gian chẳng còn dài
            Cứ thanh thản sống, cứ miệt mài vui
            Bao gìơ từ biệt cuộc chơi
            Thì xin làm áng mây trôi giữa trời.

                                                                                  Công Lý
                                                                  Hà Nội một ngày mưa tầm tã.
                                                                                 (3/8 /2013)


Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

VƯỜN XƯA TA VỀ

               
                                      ĐƯA BẠN LÊN VƯỜN GIẢI KHUÂY

  Hai chúng tôi cùng chào đời vào năm 1941, cùng cầm tinh con Rắn, cùng có tên đệm là NHƯ, bạn là NHƯ THANH còn tôi là NHƯ LÝ. Chúng tôi kết bạn với nhau tư thuở còn để chỏm, đèn sách với nhau bên dòng sông LY trong xanh thuộc thành phố Quế Lâm của nước bạn Trung Hoa.  Bạn và gia đình hiện sinh sông tại đất nước Công Hòa SÉC bên trời Âu xa xôi, tôi sông ở Hà Nội và từ ngày hết việc về nghỉ đã kiếm được mảnh vườn làm nơi hò hẹn bạn bè thi thoảng gặp nhau chén chú chén anh. Bạn vưa trải qua nỗi buồn vô hạn, đưa tiễn người bạn đời về cõi xa xăm , nén nỗi đau nghìn trùng đưa tro cốt người vợ thân yêu về với quê cha đất tổ.  Chúng tôi gặp lại nhau tại Ha Nội sau mấy chục năm xa cách. Tôi lỡ hẹn không đi được cùng bạn về quê trên Phú Thọ nên ngỏ ý mời bạn  lên vườn nhà tôi ở chơi một hôm cho khuây khỏa nỗi buồn, Như Thanh đã nhận lời thu xếp thời gian đến với hai vợ chồng tôi. Tôi cũng muốn rủ thêm vài người bạn cố tri cung hội, cung lớp lên chơi cho vui, ngặt một nỗi cơn mưa hạ tầm tã đổ về bất chợt khiến dự định ban đầu không thành hiện thực . May sao  sáng sớm ngày 23 thang7, Tôi, Như Thanh và Kim Lân vẫn vượt qua trận mưa ấy  để "vườn xưa ta về". Cuộc hội ngộ  của 3 chung tôi không có gì đặc biệt nhưng diễn ra trong một hoàn cảnh rất ấn tượng . Sau cơn mưa cây vườn  nhà tôi như xanh hơn ,đậm chất thôn dã hơn.

 Chúng tôi ngồi quây quàn bên nhau dưới mái nhà sàn, trò chuyện thân tình. Ngớt mưa tôi đưa Thanh đi loanh quanh thăm vườn cây ao cá. Thanh nói với tôi " ở bên SEC khó tìm được mảnh đất rộng thế này làm vườn, vườn của vơ chồng cậu khá rộng và đẹp ". Anh bạn LÂN SỀU ( hồi học với nhau hay gọi như thế ) đã lên đây mấy lần thì tỏ ra rất thích thú,nói vui "thế này mới là học tập thiết thực đạo đức tác phong của Bác Hồ chứ, cũng nhà sàn , ao cá như của Bác đấy thôi, dễ mấy người làm được ". Tôi chỉ im lặng chẳng biết nói gì trong khi bà xã lam vài món quê để tôi thết đãi hai bạn. Bữa cơm giản dị, bánh đúc,   đậu phụ chấm tương, rau xanh sạch hái ngoài vườn, cá nuôi dưới ao..chỉ có vậy và thêm chén rươu quê chủ nhà tự chế, nhưng có lẽ cái vị hương quê và tình bằng hữu từ thuở ấu thơ đẫ gắn kết chúng tôi và đem đến cho chung tôi nhưng khoảnh khắc vô cung gần gũi va đầm ấm.

            Sau bữa cơm đạm bạc, chung tôi cùng ngồi uông với nhau chén trà xanh và thưởng thức hương vị của cây trái vườn nhà, quả ổi vàng ,quả táo xanh và nhưng múi mít thơm ngon.
            Tiễn hai bạn ra về trong đầu  tôi chợt nảy ra vài ý, vội vàng ghi lại, thôi thì cứ tạm gọi là thơ hay gì đó cũng được  :

                Ngày mưa bạn ghé thăm vườn
                Chồi xanh lộc biếc ven đường đày hoa
                Trà xanh, táo ngọt bưng ra
                Rượu quê nâng chén ngâm nga sự đời
                Bạn từ đất khách xa xôi
                Hôm nay về với vườn tôi một lần
                Buồn vui lòng thấy lâng lâng
                Tình xưa bạn cũ bâng khâng dạt dào.

  Công Lý                                                                
    23/7/2013

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

KỶ NIỆM TRƯỜNG SA


                                 KHÔNG XA ĐÂU,  TRƯỜNG SA ƠI !

                                                     


         Cháu  : Tuổi già là thế nào hả ông?
         Ông     :  Là khi  những kỷ niệm thay thế cho tương lai cháu ạ.

        Khi cháu tôi hỏi, tôi đã trả lời như vậy.  Những năm tháng đã qua của cuộc đời bốn mươi năm theo nghiệp Ngoại giao  đã để lại trong ký ức tôi  rất nhiều kỷ niệm. Một kỷ niêm  không bao giờ phai nhạt đó là chuyến đi của tôi đến một miền đất thân yêu của tổ quốc, một quần đảo xa ngoài biển đông , Quần đảo Trường Sa. Mùa hè năm 1987, trong chuyến đi công tác ra quần đảo Trường Sa của Phó Thủ tướng Trần Đức Lương (người lãnh đạo cao nhất của ta ra thăm Trường sa khi đó ), Bộ Ngoại giao được cử  2 cán bô tháp tùng, may mắn thay tôi là một trong số đó.

     Trường Sa  cách đất liền khá xa, nhưng trong tâm khảm tôi và bao người con đất Việt khác thì TRƯỜNG SA và cả HOÀNG SA nữa không hề xa và luôn gần gũi, ai cũng ước ao được một lần đến thăm Trường Sa sống với các chiến sỹ ở đó dù chỉ là một ngày, thậm chí một giở thôi, và ước mơ ấy của tôi đã thành sự thật.

        " Thương nhớ sao người chiến sy Trường Sa
        Không xa đâu ,Trường Sa ơi !
        Không xa đâu, Trường Sa ơi ! "
 
Tác giả chụp ở Trường Sa
  Đó là suy nghĩ của bất ai đã được đến với Trường Sa dù trong hoàn cảnh nào.  Ngày nay quần đảo Trường Sa đã là một miền đất trù phú, cây cối xanh tươi, có bộ đội hải quân đóng quân  và còn có nhiều hộ dân tới đảo an cư lạc nghiệp. Nhưng 24 năm về trước thì chưa được như thế. Những năm tháng đó đất nước còn khó khăn , phương tiện đi lại chỉ  duy nhất là đi tàu biển. Chúng tôi đi theo chuyên cơ của Phó Thủ tướng từ sân bay quân sự Hòa Lạc bay thẳng vào Cam Ranh .
     Từ Cam Ranh chúng tôi lên một tàu vận tải của hải quân ta  vượt biển khơi để ra đảo. Thế là bắt đầu những ngày lênh đênh trên biển khơi. Tôi cứ  nghĩ chắc chuyến đi trên biển này sẽ vất vả và  buồn tẻ lắm đây, nhưng thực tế là vất vả thì có, nhưng không buồn tẻ, bởi vì sát lúc lên đường, PTT đã đồng ý cho một nhóm văn công thuộc đoàn ca múa không quân của quân đôi cùng đi  để biểu diễn phục vụ các chiến sỹ ngoài đảo khơi. Tôi nói đùa với anh bạn  là chuyên viên của vụ luật pháp đồng hành cùng tôi : " số chúng mình hơi bị hên đấy ". Câu chuyện diễn ra trong mấy ngày lênh đênh vật lộn với sóng dữ bên cạnh mấy cô văn công trên con tàu ấy khá thú vị tôi sẽ kể sau, giờ hãy nói đên chuyện lên đảo trước đã.

 Ngồi trên ụ pháo xe tăng ở đảo Trường sa lớn
     Lúc đó ở Trường Sa chưa có cầu tàu, Con tàu  chở chúng tôi ghé sát vào ven đảo Trường Sa lớn, chung tôi lên những con thuyền nhỏ để vào bờ.  Hàng trăm chiến sỹ hải quân tập trung chào đón Phó Thủ Tướng, chúng tôi thuộc diện ăn theo nên cũng được đón tiếp nồng nhiệt. Chúng tôi ở thăm đảo này 3 ngày. Những ngày trên đảo rất thú vị.  Trên đảo có đơn vị hải quân gồm khoảng vài trăm chiến sĩ đồn trú. Các chiến sỹ ở trong những dãy nhà lợp mái tôn hoặc mái lá. Sau buổi  tập trung cùng các chiến sỹ để nghe Phó Thủ tướng nói chuyện , cả đoàn chúng tôi chia ra thành từng nhóm nhỏ đi với nhau. Nhóm tôi ngoài mấy cán bộ của Bộ Ngoại giao, Ban Biên giới Chính phủ còn có  một nữ ca sỹ trẻ và một nhạc công của đoàn văn công . Chúng tôi đi thăm  một tiểu đôi hải quân, các chiến sỹ trẻ hồ hởi chuyện trò, chúng tôi chuyển cho họ những bức thư mang từ đất liền ra và cả những gói quà của  gia đình và người thân gửi cho họ. Vài chiến sỹ dẫn chúng tôi đi thăm thú vòng quanh đảo. Đây là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo nhưng chiều dài cũng chỉ vài trăm mét. Trên đảo có rất ít cây cối ,  ở nơi đây chỉ có đá sỏi và cát, riêng chỉ có một loại cây sống được nên được gọi là "cây phong ba". Trên đảo rất thiếu nước ngọt, chỉ có duy nhất một giếng nước ngot, nước vô cùng quý giá, đơn vị quy định nước chỉ để  dùng cho ăn,uống ,không được dùng để tắm giăt, các chiến sỹ chỉ trông cậy vào những cơn mưa, cứ có mưa là tìm mọi cách để tích nước, và tranh thủ tắm cho thỏa thích.  Chả thế mà khi ra thăm đảo , nhà thơ Trần Đăng Khoa đã  cảm hứng cho ra lò bài thơ " Đợi mưa ở đảo Sinh Tồn " nói lên tâm trạng các chiến sỹ  :
    "Chúng tôi ôm súng đợi mưa rơi
    Lòng thắc thỏm niềm vui không nói hết
    Mưa đi mưa đi mưa cho mãnh liệt
    Mua lèm nhèm chung tôi chẳng thích đâu
    Không mưa rào thì hãy cứ mưa ngâu
   Hay mưa bụi, mưa li ti cung được
    Mặt chung tôi ngẩng lên hứng nước
    Một giọt thôi cát cũng dịu đi nhiều
    Ôi đảo Sinh Tồn ,hòn đảo thân yêu."

Ngọn hải đăng trên đảo Song Tử Tây
    Mấy ngày đó chúng tôi có dịp đến tận các ụ pháo trên đảo , thực ra đó chỉ là những chiếc xe tăng được đặt dưới  chiến hào, nòng pháo ngẩng lên hương ra phía biển để bảo vệ đảo mỗi khi có kẻ tới xâm chiếm . Tôi  nhờ mấy tay phóng viên chớp cho một pô đang ngồi trên khẩu pháo xe tăng. Lúc rảnh rỗi tôi cùng  mấy anh bạn và cả Thanh Hiền cô ca sỹ trẻ nữa tham gia làm vườn trồng rau xanh, nói là vườn chứ thực ra đó chỉ là nhưng mảnh đất nhỏ trên đó trông một ít rau thơm, rau cải để cải thiện bữa ăn, phần lớn thực phẩm đều phải chuyển tư đất liền ra. Bữa cơm của chúng tôi với các chiến sỹ tuy đạm bạc nhưng cũng có đủ cả thịt cá, rau xanh. Buổi tối chúng tôi cùng ngủ với các chiến sỹ trong những túp lều dựng tạm, tuy đơn sơ nhưng đày thi vị, chúng tôi nằm ngắm trời sao lung linh, đón những ngọn gió biển đem theo vị mặn. Tuy thiếu nước nhưng các chàng lính vẫn lấy nước dự trữ cho chung tôi tắm rửa,  chúng tôi chỉ dùng chút ít để rửa mặt còn bao nhiêu thì nhường hết cho các em gái văn công cả.  Lúc bấy giờ thông tin còn khó khăn, chưa có Tivi hay điên thoại cầm tay như bây giờ. Tôi đem theo một chiếc radio bán dẫn  chỉ nhỏ như bàn tay  để tặng các chiến sỹ không ngờ lại được họ rất thích vì đang cần để nghe  tin tức ở quê nhà.  Buổi tối mấy hôm ấy, các chiến sỹ và cả đoàn chung tôi như được sống trong không khí lễ hội, hàng trăm chiến sỹ ngồi chỉnh tề ngoài sân rộng để xem văn công biểu diễn. Nhóm văn công gôm 10 ngừơi , Ca sỹ  Bích Việt  đã nhiều tuổi nhưng giọng ca còn ngọt ngào lắm, Thanh Hiền còn rất trẻ mới tốt nghiệp trường nghệ thuật quân đôi, nhưng ca cũng rất hay, ngoài ra còn một số  diễn viên  múa và nhạc công, họ hát những bài hát về chiến sỹ hải quân, các ca khúc ngợi ca tổ quốc, quê hương. Các chiến sỹ  chăm chú lắng nghe, vài cậu lính trẻ cảm động  rơi lệ, họ đồng thanh hát theo, có người cao hứng còn  chạy  lên sân khấu dựng tạm để nắm chặt tay cô ca sỹ Thanh Hiền  rồi chớp nhoáng hôn  lên má cô, nhiều người khác vỗ tay hoan hô,  khi kết thúc buổi diễn họ  ào cả lên sân khấu ôm choàng lấy các diễn viên. Những khoảnh khắc đày cảm xúc ấy còn đọng lại mãi trong lòng tôi đến tận bây giờ.
   Mấy ngày hội ngộ rồi cũng qua nhanh, các chiến sỹ đưa tiễn chúng tôi lên các con thuyền nhỏ, họ bám theo, bơi theo cho tới khi chng tôi lên con tàu lớn để đi tiếp  về phía khu nhà sàn DK1.
        Chia tay các chiến sỹ hải quân lòng tôi thật bùi ngùi, chỉ mấy ngày đêm ngắn ngủi  tôi đã được tận mắt chứng kiến sự chịu đựng thiếu thốn, gian khổ của các chiến sỹ hải quân nơi đầu sóng ngọn gió để giữ gìn chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quóc thân yêu, tôi càng thấm thía , chia sẻ với những niềm thương nỗi nhớ của bao gia đình khi họ phải xa con em  họ, những người lính đang làm nghĩa vụ bảo vệ biển đảo của Quê hương.
     
     Đến  hôm nay tôi vẫn còn ghi nhớ mãi chuyến đi có một không hai đó trong đời mình , chuyến đi đến đảo quê hương đã để lại trong tôi những kỷ niệm không bao giờ nhạt phai  :

        Trường Sa một lần tôi đến
        Mênh mông biển mặn thầm thì
        Người lính ngày đêm giữ đảo
        Giữ biển  sóng lặng bình yên
        Đêm Trường Sa nằm nghe câu hát
        Biển đày sao , sóng vỗ rì rào
        Đêm Trường sa,  biển trời xanh ngát
        Thấy bóng quê nhà trong tiếng hát em.

        Trên tàu trở về đất liền, tôi và Thanh Hiền trở nên quen thân, chúng tôi hàn huyên đủ mọi chuyện, hóa ra Hiền cũng là dân Hà Nội gốc. Cảm giác của tôi khi đó thật khó diễn tả. Tôi sẽ chẳng thể nào quên được  khoảnh khắc  " Biển một bên và Em một bên "  như nhà thơ nào đó đã diễn tả. Về tới Vũng tàu, chúng tôi rủ nhau cùng đi uống cà phê. Khi chia tay ra bắc, cô ca sỹ ấy còn hẹn sẽ gặp nhau ở Ha nôi, và hứa là sẽ đón tôi đến chơi nhà cô ở con phố cổ của Hà Nôi.
     Thế rồi,   một tuần sau khi về Hà Nội  :

        Tôi về phố cũ tìm em
        Vô duyên chỉ gặp bóng đêm hững hờ
        Chắc em còn mải giấc mơ
        Bỏ tôi lạc lối bơ vơ một mình.
                
                   Nhưng  tôi tin là vào lúc đó  ca sỹ  Thanh Hiền đang có mặt ở biên giới phia bắc để đến với các chiến sỹ thân yêu.
      
     
                                                  Công Lý           16 tháng 7 năm 2013




Chủ Nhật, 30 tháng 6, 2013

THƠ ĐƯA VÀO SÁCH


                                             CHÙM THƠ VIẾT VỀ CUỘC ĐỜI


Bài 1
                                                                 VỊNH HOA CÚC

                                                       ( Biểu tượng của THẠCH QUÂN)

                                  Cúc vàng hai đóa xinh xinh
                                  Thêu trên màu biếc bóng mình bóng ta
                                  Cầm tay suốt chặng đường xa
                                  Rưng rưng giọt lệ khóc nhòa hoàng hôn.
                                                                                     ( Quang Trung đề tặng )

                                  Bảy mươi năm thọ trần gian
                                  Vẫn màu hoa ấy có tàn đâu em
                                  Tuổi già xanh, một trái tim
                                  Bảy mươi xuân vẫn có mình có ta.
                                                                                    ( Công Lý tiếp vần)  16/10/2011

   Bài 2                                           NỖI NHỚ

                                  Ngày thu một thoáng heo may
                                  Nghe thời gian đọng chiều say nắng vàng
                                  Se se gió gọi mùa sang
                                  Miên man nỗi nhớ ngập tràn hồn ta
                                  Ngỡ như người đã đi xa
                                  Bóng hình kia đã nhạt nhòa khói sương
                                  Đâu hay còn mãi nhớ thương
                                  Đâu hay còn mãi vấn vương một đời
                                  Thu đi lá có còn rơi
                                  Chiều tàn nắng úa ta ngồi nhớ ai ?

                                           ĐÊM NAY

                                  Đêm nay  trăng lặn mờ sương
                                  Người đi đi mãi dặm trường xa xôi
                                  Cô đơn chỉ một mình tôi
                                  Rượu nồng nhấp chén lòng chơi vơi buồn
                                  Một trời đêm vắng mênh mông
                                  Một hồn thơ giữa hư không mơ màng.
                                                                                                 Thang 10/ 2012

  Bài 3                               BỖNG DƯNG

                                  Đôi khi buồn đến tái tê
                                  Bỗng dưng lại muốn trôi về tuổi thơ
                                  Đôi khi vui đến bất ngờ
                                  Bỗng dưng nhớ buổi hẹn hò hôm nao
                                  Đôi khi lòng thấy xôn xao
                                  Bỗng dưng lại nhớ chiều nào vắng em
                                  Đôi khi trò chuyện  cùng đêm
                                  Bỗng dưng nghe nặng nỗi niềm đày vơi
                                  Đôi khi nghe một tiếng cười
                                  Bỗng dưng lòng chợt bùi ngùi xót xa.
                                                                                      Mùa đông 2012

   Bài 4                                   NGẪU HỨNG SÔNG CẦU
                                                             (Họa thơ Hồng Quang)

                                 Sông Cầu nước chảy lơ thơ
                                 Con sông như thực như mơ bồng bềnh
                                 Êm trôi dòng nước lung linh
                                 Nghe câu quan họ nghĩa tình thiết tha
                                 Sông Cầu vẫn chảy về xa
                                 Người ơi, người ở cùng  ta đừng về
                                 Bồn chồn dạo bước đường quê
                                 Bóng tre xanh mát trưa hè nao nao
                                 Bến đò xưa khúc sông sâu
                                 Nào ai có đợi ai đâu, hỡi người./
                                                                                     Bên Sông Cầu, tháng 10/2011
     Xin tùy ban Biên tập lựa chọn.



Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2013

  TỰ CHUYỆN
(Bài đăng vào sách của lớp)
 
                                                    TIA CHỚP CỦA SỐ PHẬN

             Tôi sinh ngay 16 tháng 10   năm 1941 tai một nhà hộ sinh  trên con phố Quán Sứ của Ha Nội. Cha Mẹ tôi đều là người gốc Huế. Năm 1933 cha tôi  Hoàng Như Tiếp tốt nghiệp khóa đầu tiên tại khoa Kiến trúc của trương Mỹ thuật Đông dương, ông đưa gia đình ra Ha nôi sinh sống.  Ra trường ông mở xưởng vẽ tư nhân cộng tác với KTS  Nguyễn cao Luyện  và họa sỹ Tô ngọc Vân. cuộc sống của gia đình tôi lúc đó rất khá giả, tôi được một vú em chăm sóc. Năm 1946, khi tôi lên 5 tuổi thì cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, là một trí thức nhưng cha tôi đã nghe theo lời Bác gọi đưa cả gia đinh  ra kháng chiến. Gia đình tôi định cư ở huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang. Những năm từ 1947 tới 1952 tôi sống cùng Mẹ, chi, em gái  tại đó, tôi phụ giúp mẹ tăng gia, cuốc đất trồng khoai, cuộc sống tuy vất vả nhưng cũng tạm đủ ăn. Tôi vẫn được cắp sách tới trừơng làng, học đến hết lớp 4. Bố tôi làm việc tại An toàn khu ( ATK ), chính ông là người đã thiết kế khu hội trường và nhà ở cho các đại biểu cả nước về dự Đai hội Đảng toàn quốc lần thư 2 tai Việt Bắc, công trình này được Bác Hồ giao phó, khi hoàn thành Bác đã rất ngợi khen  và Cha tôi được đặc cách mời tham dự Đai hội .

         Cuối năm 1953, một hôm bất ngờ cha tôi ghé về thăm nhà và nói với Mẹ tôi là Bác Hồ và Trung ương đảng chọn một số con em cán bộ cách mang và trí thức theo Kháng chiên gửi sang bên TQ để hoc tập sau này làm việc cho đất nước khi kháng chiến thắng lợi. Cha tôi muốn cho người chị gái hơn tôi một tuổi đi, nhưng cả mẹ và chị đều không muốn con gái phải xa mẹ, thế là tôi được chọn thay. Một tuần sau đó một chú cán bô tên là Lễ đưa xe đạp đến đèo tôi lên khu ATK. Khi chia tay Mẹ chị và 2 em tôi đã buồn đến rơi nước mắt  và không muốn xa gia đình. Tôi theo chú  ghé qua khu ATK nhưng không gặp cha tôi, ở đó một ngày  rồi hai chú cháu lên đường qua Thái Nguyên  lên Lạng Sơn. Đường đi đày khó khăn trắc trở, chú Lễ thật vất vả còn tôi thì ngồi ê cả mông, cuối cùng cũng đến được trạm liên lạc ở ngay sát biên giơi . Tôi ở đó vài hôm rồi cùng một nhóm các ban khác đi bộ qua biên giới Muc Nam quan rôi lên xe ô tô đi tiếp. Khi qua biên giới tôi cũng không biết, lúc đó chỉ nhặt được vỏ bao thuốc lá "Đại Tiền môn" thi biết là đã sang đất Trung Quôc. Từ Bằng Tường tôi lên xe ô tô mui bịt kín lên Nam Ninh rồi đi xe lửa lên Quế Lâm. Tới ga Quế Lâm bọn tôi lại phải chui vào xa tải GMC  bịt kín chạy về trường rồi sau đó thế nào tôi không con nhớ nữa, chỉ thấy mệt và buồn. Lúc tôi đến trường thì đã có nhiều bạn rồi không biết là các bạn đó mới tư trong nước sang Quế Lâm hay là từ Lư Sơn chuyển về. Tôi được phân vào lớp 5 A, khi chụp ảnh 3 người, tôi đứng giữa, hai bên là bạn Hông Sỹ và Tiến Nguyên (Bức ảnh này đã bị thất lạc khi tôi đi sơ tán trong thời gian Mỹ ném bom Hà Nội ),thật đang buồn là 2 người bạn đó có rất nhiều kỷ niêm với tôi lại đều đã vội vàng ra đi. Ở trường Quế Lâm tôi thuôc  loại trò ngoan, không nghịch ngợm, tính hơi nhát và ngô nghê chẳng biết gi ngoài chuyện học hành. Tôi cũng như nhiều bạn nam rất thích ra chơi và tắm ở sông Ly, nước sông rất xanh, thi thoảng lại thấy một chiếc thuyền lướt nhẹ ,trên thuyền có những chú chim sếu chuyên mổ bắt cá cho chủ thuyền .  Đến giờ tôi vẫn còn nhớ mãi cái món cháo trắng ăn với calathau mỗi buổi sáng, hễ có dịp đến Trung Quốc là tôi lại mua một ít calathau đem về ăn và gửi tặng các bạn cùng lớp thời Quế lâm.  Kỷ niệm tôi còn nhớ mãi đó là buổi đưa tiễn cô Quế về Nam Ninh tại nhà ga Quế lâm, kỉ niệm đó tôi đã ghi lại trong bài viết về  cô giáo thân yêu của lớp 5 chúng mình. Những tháng năm đó để lại nhiều dấu ấn cho cuộc đời mỗi chúng ta sau này. Tôi coi đó như là một "tia chớp của số phận" mình vậy, chuỗi ngày tháng  của tuổi thơ ấy là những bước đi chập chững đầu đời tạo nên tính cách con người tôi trong suốt cuộc đời sau này.

      Sau khi trở về nước năm 1957 , tôi   và nhiều bạn khác theo học cấp ba tại trường Chu văn An . Sau khi tốt nghiệp lớp 10 phổ thông, năm 1961 tôi theo học lớp tiếng trung ở trường ngoại ngữ Gia Lâm, tháng 9 năm 1961 thì sang học tại khoa ngữ văn trương Đại học Bắc Kinh Trung Quốc, cùng học với Ngọc Trâm. Học với nhau một thời gian thì bạn Trâm bị ốm phải trở vè  nước, ngày bạn ấy chia tay chúng tôi còn mang hoa đến tặng. Sau 5 năm dùi mài sách vở, học chuyên về hán ngữ và văn học Trung Quốc tôi cứ đinh ninh sẽ về công tác ở viện ngôn ngư chỗ ban Trâm, nhưng không ngờ  tháng 11 năm 1966 tôi  được Đại Sứ Trần Tử Bình chọn làm phiên dịch cho Sứ quán . Thế là tôi trở thành nhân viên Ngoại giao và bắt đầu cuộc đời đi sứ liên miên, làm cán bộ phiên dịch rồi chuyến sang cán bộ nghiên cứu.  Năm 1992 tôi được đề bạt  làm Vụ trưởng  vụ Trung Quốc của Bộ Ngoại giao, sau đổi thành Vụ Đông Bắc Á . Tôi giữ chức vụ này suốt chục năm sau đó cho tới khi nghỉ hưu năm 2007. Trong 40 năm làm nghề ngoai giao tôi đã 3 lần đi sứ Bắc kinh , làm Tùy viên, rồi Bí thứ 3 , lân sau cùng ở TQ là Tham tán Công sứ  (1988-1990 ). Năm 1996 tôi được Nhà nước cử làm Đại Sư Đặc mệnh toàn quyền tai Malaysia trong 4 năm, đến năm 2003 khi làm Vụ trưởng Vụ Đông Bắc Á thì tôi lại được cử sang Đài Loan làm Chủ nhiệm văn phòng Kinh tế Văn hóa của VN ở Đài bắc . Năm 1971 tôi lập gia đình, điều hơi bất ngờ là  Vợ tôi Nguyễn Hồng Liên lại có anh trai là Nguyễn Ngọc Tiến học trò lớp 3A Quế Lâm, Anh đã hy sinh cùng mấy người bạn nữa đều là học trò Quế Lâm khối 3, khi đó Anh là phi công lái máy bay trực thăng tham gia chiến đấu chống máy bay Mỹ trên bàu trời Hà Nôi năm 1967.

       Hơn 40 năm theo nghiệp Ngoại giao, tôi gần như tập trung toàn bộ sinh lực vào công việc theo dõi, nghiên cứu về đất nước Trung Quôc - người láng giềng khổng lồ ở phía bắc, đất nước mà thuở ấu thơ tôi đã từng sống, ăn học lớn lên rồi làm việc nhiều năm tai đó, tôi cũng là người trực tiếp tham gia vào việc xử lý mối quan hệ  VIETNAM-TRUNG HOA đày thăng trầm.Tôi đã dến với nhiều nước trên thế giơi tư Âu sang Á, từ Nga đên Mỹ, Nhật Bản, các nước Đông Nam á, nhưng Trung Quốc vẫn là nơi tôi có nhiều duyên nợ nhất. Tôi đã sống ở đó trong những thời kỳ quan hệ hai nước tốt đẹp nhất, cảm nhận rõ tấm lòng hào hiệp của người dân Trung Quốc mặc dù cuộc sống còn khó khăn vẫn dành một phân cơm áo chi viện cho cuộc chiến chông Mỹ giành độc lập thống nhất của nhân dân Việt nam, tôi cũng tận mắt chứng kiến những phong ba bão táp của cuộc "cách mạnh văn hóa" cướp đi sinh mang hai chục triệu người dân, cuộc đàn áp đẫm máu trên quảng trường Thiên An môn năm 1989, và đã trải qua những tháng ngày căng thẳng khi chính người "đồng chí anh em " này  đã đưa 60 vạn quân ồ ạt tấn công các tỉnh biên giới phia bắc của Việt nam tháng 2/1979.
  Cuộc đời tôi đã trải qua nhiều cung bậc thăng trầm. Có lúc tôi được ngồi trên ghế cao bên cạnh nhà Vua của nước láng giềng Malaysia khi được Chủ tịch nước trao cho danh hiệu cao quý là Đai sứ, người đại diện tối cao của nhà nước Việt Nam , có khi lại đầu tắt mặt tối cùng những đồng nghiệp miệt mài dich bản tuyên bố của Chính Phủ ta lên án Bành trướng phương bắc đem quuân xâm lấn Việt Nam. Cũng có  nhiều  dịp tôi được rong chơi thăm thú những thắng cảnh lừng danh cua Paris ,Tokio , Washington nhưng cũng có những đêm dài tôi trằn trọc, âm thầm buồn bã trước nối đau của một cô dâu người Việt bị ngược đãi trên hòn đảo Đài loan khi tôi là người Đại diện của Việt Nam tại đó.
  Nhưng trải qua tất cả những thăng trầm, những đảo lộn khó lường trước được đó, tôi vẫn bình  thản để đến với tuổi già. Nghỉ hưu rồi, như các cụ xưa vẫn nói : "Vô quan nhất thân khinh " (Không còn quan chức, một đời nhẹ tênh).Sau những ngày tháng cần mẫn làm việc, nay đã đến lúc " Giải giáp quy điền", tôi luôn cảm nhận đước sự thanh thản, và có đôi chút "mãn nguyện" vì mình đã không làm điều gì hổ thẹn với tổ quốc, với nhân dân . Nay trở về với cuộc sông bình dị tôi cảm thấy thật an lòng. Người xưa đã nói : " Nhân đáo vô cầu, phẩm tự cao " (con người khi đã tới lúc không còn đòi hỏi gì nữa thì phẩm hạnh sẽ trở nên thanh cao ) quả đúng không sai.
      Trong cuộc sống, điều đáng sợ nhất không phải là sợ bị mất của cải, tiền bạc, chức tước mà chính là sợ bị mất lòng tin ở cuộc sống, ở vào tuổi  "cổ lai hy" điều này càng có ý nghĩ hơn.  Cũng như các bạn  khác, vào tuổi già rồi tôi luôn  yêu quý trân trọng cuộc sống hơn, không phải bởi quỹ thời gian mỗi ngày một ít đi mà bởi chính là niềm tin với cuộc sống .
   Như người đời thường nói :
       Sống yên vui danh lợi mãi coi thường
       Tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến.
  Đó cũng chính là tâm nguyện của tôi.

      Trong những ký ức về cuộc đời mình, tôi luôn nhớ về một thời thơ ấu, nhớ về mái trường thiếu nhi Quế Lâm. Đó là những ngày tháng đẹp ,trong sáng của tuổi thơ, của tình bạn thắm đẵm nhưng tình cảm thân thiết vô tư. Bây giờ mỗi khi nghĩ về nhưng kỉ niệm đó , nhớ về mái trường xưa ấy tôi như  thấy ở đâu đó :
         Những hình bóng bạn bè thuở ấy
         Sao không bao giờ nhạt phai?
        Tình bạn thân thiết hồn nhiên ấy theo chúng tôi đi suốt những năm tháng của cuộc đời, làm sao lại nhạt phai được  chứ , sẽ chẳng bao giờ nhạt phai đâu.

  Thời gian cứ lặng lẽ qua đi , tôi như đang bồng bềnh trôi trong khúc cuối của dòng sông cuộc đời . Giờ đây trong cuộc sống bình thản này :

     " Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui
     cùng với anh em tìm đến mọi người.."

Tôi sẽ mãi như thế và cùng với các bạn một thời Quế lâm của mình, chúng tôi sẽ sát cánh bên nhau, cùng nhau hát ca để  luôn thấy :
       ".. Tiếng cười rộn rã bay ".

                                                                             Công Lý tháng 6 năm 2013

                                                   VỀ THĂM MÁI TRƯỜNG XƯA

                                 Về thăm trường cũ không em
                                 Dòng sông Ly vẫn êm đềm trôi xuôi.?

                                 Quế Lâm ngày ấy đâu rồi
                                 Còn trong ký ức một thời khó phai
                                 Đi tìm ai, có thấy ai
                                 Những bè bạn tháng năm dài bên nhau
                                 Vẫn màu hoa thắm Trúc đào
                                 Vẫn tình bằng hữu thuở nào ấu thơ
                                 Dòng đời trôi, một giấc mơ
                                 Mái trường xưa giục lời thơ tuôn trào.

                                 Trở về với nỗi ước ao
                                 Quế Lâm trường cũ ấm sao tình người.

                                                                      Công Lý 25 tháng 8 năm 2010


   

Chủ Nhật, 9 tháng 6, 2013

Sống thực


                               

                               SỐNG THỰC HAY CHỈ  "GẦN NHƯ LÀ SỐNG"

          Tôi biết là Bạn đang sống đấy, nhưng đã có bao giờ bạn tự hỏi là mình đang "Sống thực" hay chỉ  "Gần như là sống".?  Cụm từ "Gần như là sống "  không phải do tôi nghĩ ra mà đó là tên một cuốn sách của ĐỖ PHẤN . Ông vốn là một họa sỹ khá nổi tiếng nhưng vài năm gần đây lại nhảy sang viết văn. Điều lạ là những cuốn sách của ông khá hấp dẫn người đoc. Ông chuyên viết về đời sống chốn đô thị, viết về những thân phận trôi giạt trong cái "nhàu nhĩ phố phường", những công chức hạng xoàng loay hoay kiếm sống để nuôi vợ con từ vùng quê chuyển lên,  những bác xích lô cuộc đời lam lũ, và có cả những kẻ  bần cùng  tứ chiếng, ma túy xì ke, những ả làm tiền..Họ sống ở những ngóc ngách của Hà thành  tạo nên một lớp "cặn bã " đô thị..Cuộc sống thực của những hạng người này đươc ĐỖ PHẤN mô tả khá tỷ mỷ, nhiều lớp lang, góc cạnh và qua sự tả thực của ông, họ không phải đang sống mà chỉ đang "GẦN NHƯ LÀ SỐNG" thôi. Vậy thế nào mới là sống  thực? câu hỏi đó Tác giả đã không  trả lời mà dành  cho độc giả. Tôi là một trong số độc giả đó và vẫn đang loay hoay với  câu hỏi " Bạn đã sống thực chưa"?

     Sáng sớm ngày thứ  bảy đầu tháng sáu, bàu trời trong xanh  không một gơn mây ,tôi bỗng nảy ra ý định đi chơi xa một chuyến để có cơ hội trải  nghiệm cái gọi là "sống thực ". Tôi nhảy lên chiếc xe đạp vốn dùng hàng ngày và đạp thẳng về phía Hồ Tây. Sáng sớm trời mát xe còn khá tốt nên chả mấy chốc tôi đã qua con phô Lạc long quân và thế là chạm ngay đến mép nước Hồ Tây. Phía trước măt tôi trên mặt hồ là một đám sen dày đặc. Trời mây, mặt nước hồ lung linh và những búp sen hồng vươn lên trong nắng sớm tạo nên một bức tranh thật đep,  thật kỳ ảo, thật  ấn tượng, một cảm giác sảng khoái, lâng lâng tràn ngập lòng tôi.  Tôi thấy từ trong đám sen ấy có một chiếc thuyền lướt đi, trên thuyền mấy cô gái trẻ đang ôm những bó sen màu hồng tỏa hương thơm dìu dịu. Khi lên bờ thấy tôi đứng bên chiếc xe đạp, một cô gái trẻ măng biếu tôi mấy búp sen, cầm trên tay chưa kịp nói lời cám ơn thì mấy cô gái ấy đã chạy như bay về phía chiếc xe con đỗ gần đó để lại trong gió những tiếng cười ròn rã. Tôi còn nghe vẳng bên tai tiếng một cô gái trong dám trẻ ấy
" Ông đem về nhớ  lấy nhụy sen để ướp trà uống  thơm lắm ông ạ ".  Bỗng chốc tôi nhận ra mấy cô bé ấy hẳn là dân Hà Nôi đích thị, nếu không làm sao biết cách uống trà ướp sen của dân Hà Thành chứ. Trên đương về nhà tôi cứ nghĩ , thế này chả phải là đang "sống thực" đó sao. Có lẽ với tôi sống thưc tức là sống theo cách của mình, theo ý thích, ý định của mình, không lệ thuộc vào người khác, không sống theo cách cua người khác. Đơn giản thế thôi !

        Còn nhớ mấy hôm trước gặp nhau tại nhà hàng Chiếu hoa, tôi cứ há hốc mồm mà nghe câu chuyện "PHƯỢT" hết sức ly kỳ của Cụ Thế Long, đám dân Cầu Ngà chung tôi chẳng ai là không phục sát đất khi nghe câu chuyện về  người " ANH HUNG SA LỘ" ấy cả. Một " cặp đôi hoàn hảo ", Cụ Long và cụ Bà chỉ với chiếc xe máy vào loại "cổ lai hy" , trang bị khá đơn sơ, ba lô khoác áo đã sờn vai, một ít thực phẩm dự trữ, bánh lương khô, nước uống và hai tâm hồn trẻ trung, hừng hực khí thế đã bất chấp mọi khó khăn, gian khổ và cả hiểm nguy để vươt qua chặng đường HA NÔI -MÔC CHÂU -TUÂN GIÁO-SƠN LA-ĐIÊN BIÊN  chưng 1600 cây sô, vươt qua  bao đèo dốc cheo leo, qua cả những đỉnh núi chót vót cách măt biển tới  nghin met. Dọc đường đi có khi lạc lối, có lúc hỏng xe, tự tìm đường, tự vá xe, hai Cụ vẫn sát cánh bên nhau, mốt tình  bền chặt keo sơn suốt mấy chuc năm đã tạo nên sức mạnh phi thường đưa hai Cụ vượt qua muôn vàn thách thức, hiểm nguy để đến với đỉnh cao chói lọi của niền tin vào cuộc sống hôm nay. Chuyến "PHƯƠT" đày kỳ thú này đã chưng minh một chân lý giản đơn nhưng ý nghĩa vô cùng sâu xa : Không có giơi han nào mà con   người không thể vượt qua. Đó chẳng phải là "sống thưc" hay sao? Triết lý rất đơn giản : sông theo cách của chính mình, đó chính là sống thực.

  Tôi đang định dừng bài viết thì nhận được cú điện thoại của Cụ Tú Riềng, thật bất ngờ Cụ báo tin cho tôi hay Cụ đã sắm cái APAT đời mới nhất, cụ cười rất sảng khoái và nói oang oang trong điện thoại,  " tư nay HAI LÚA này chẳng còn phải phiền lụy gì đên vợ con nữa, tha hồ lướt vep, chít chát thoải mái, xem phim xem ảnh mặc sức." Cụ kể chuyện đi sắm APAT khiến tôi cười đến tức bụng,Cụ bảo " Mình đã Hai lúa, đên mua của nó, nó lại còn "hai lúa "hơn cà mình" Tôi thì thầm nghĩ ,còn phải tìm đâu xa nữa, đó đích thị là "sống thực" rôi còn gì nữa.
       Còn các Cụ thì sao? đã sống thực đích thị chưa ?

                                                             Chủ nhật 9/6/2013

 

Thứ Bảy, 25 tháng 5, 2013

BẠN BÈ TÔI


                                                  TRÒ CHUYỆN CÙNG CỤ TÚ RIỀNG


              Một ngày hè nóng bức, tôi trở về với mảnh vườn ao cá, cố tránh cái hơi nóng chang chang bốc lên từ những ngôi nhà bê tông sừng sững giưa phố phừơng Hà thành. Tầm 9 giơ sáng, tôi đang loay hoay với cái vòi nước để tưới cho đám cây đã bị héo khô thì bỗng nhiên ngoài cổng có tiếng chú chó sủa, nghe tiếng sủa của nó tôi biết ngay là sắp có khách quen, chạy ra cổng thì hóa ra Cụ Tú Riêng và một anh bạn của Cụ ghé chơi. Tôi mở cửa rước Cụ vào, chú chó vẫy đuôi mừng rối rit. Hôm nay Cụ đôi mũ lưỡi chai, diên cái áo phông đỏ chót trông ra dáng dân Sport. Cụ cười hề hề, buông cặp kính đen Cụ bảo " Trên này mát thât, chả trách ông Lý cứ ở lỳ chỗ này, tìm mãi chả thấy ". Sáng nào tôi cũng hãm một ấm chè xanh, tiện thể bèn rót ra  mấy cái cốc mời 2 vị khách. Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn giả gỗ ngay sát mép hồ. Hớp một ngụm nước chè Cụ bảo " Đang đau hết cả đầu đây !" .Tôi bảo lại " Nội chiến" chứ gì ?  Cụ không trả lời, cứ nhìn mãi ra mảnh vườn đày cây xanh bóng mát của tôi rồi gật gù " Kiểu này chắc phải học cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm :Ta dại ta tìm nới vắng vẻ/ Người khôn, người kiếm chỗ lao xao ...cho xong." . Thấy Cụ hôm nay có vẻ nhiều tâm tư, tôi định bụng sẽ từ từ trò chuyện hy vọng may ra  "hạ hỏa" được phần nào nỗi buồn bực của Cụ chăng.
 Cụ Tú Riềng đang trả lời phỏng vấn


    Thế là tôi làm một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng với Cụ, không ngờ Cụ lại rất hào hứng cứ như là Cụ lên đây với tôi chỉ cốt để thổ lộ bao nhiêu nỗi bưc xúc, buồn bực  dồn nén lâu nay trong lòng Cụ vậy ! Có lần ngồi nhâm nhi cà phê với  Calathau ở cái quán "WIN WIN" gần nhà Cụ Tú chúng tôi đã bàn đến lai lịch của cái tên " TÚ RIỀNG " nghe rất dân dã lại gần gũi thân thiết ấy. Chả nói thì ai cũng biết Cụ nay là đương kim PCT kiêm TTK Hôi  "Cầu
Ngà"( giờ đã đổi "quán hiệu" sang  Chiếu Hoa.). Bởi thế cái tên Tú Riềng rất hợp với Cụ và trở nên quen thuộc với mọi người.  Trong  khôi 5 LS-QL của chúng ta có lẽ ai cũng thích trò chuyện  với Cụ, có khi chỉ là tán gẫu dăm ba câu chuyện đời thường nhưng hễ Cụ có mặt là câu chuyên sôi nổi, rôm rả hẳn lên, mỗi lân hop lớp liên hoan , chè chén  chẳng bao giơ vắng được Cụ. Nhóm Cầu Ngà thì khỏi phải nói, Cụ luôn là nguồn cảm hứng bất tân cho chúng bạn, bởi đâu chỉ có cạn chén nâng ly, khi  thưởng thức cái món khoái khẩu cày tơ, mỗi lân nâng chén Cụ lai ê a đọc mấy câu thơ của Calathau viết về cái  thú  mỗi khi đến với món "Quốc hồn, Quốc túy " ấy khiến mọi người  không nhịn được tiếng cười.
    Cụ Tú Riềng không làm thơ , nhưng Cụ có cái tài lẻ là đọc thơ của bạn bè, của người khác cực hay, cực bốc và vô cùng hấp dẫn cứ như là  thơ là của Cụ còn tác giả bài thơ dù là ai đó cũng chỉ là người chép hộ mà thôi ! Tôi được biết đến bài thơ "thế sự" nổi tiếng của Vũ Hồng Quang có tựa đề "Bài ca tôi vẫn hát" cũng là nghe Cụ Tú đọc trong lúc ngồi với nhau ở cái quán "Win Win" ấy.  Cụ Tú còn một biệt tài nữa là Kể chuyện rất có duyên, lời lẽ thì giản di, phong thái thì dân dã,có chút hài hước, nhiều khi như hút hồn người nghe, chẳng phải chỉ các cụ ông mà ngay các Cụ Bà cũng có cảm nhận ấy.
Hai ông bạn già  bên bờ ao

     Nhưng ấn tương sâu đậm nhất Cụ để lai trong lòng tôi và nhiều bè bạn khác nữa đấy chính là  tình cảm chân thành ,sâu lắng đối với bạn bè của Cụ.  Cụ luôn quan tâm hỏi han ,đông viên ban bè mỗi khi nghe tin bạn gặp khó, sức khỏe suy giảm. Cứ gặp tôi là Cụ hỏi " vẫn còn sống đấy chứ ?"  Cụ cười khà khà rồi  bảo " tao với mày chưa đi được đâu, đời còn nhiều cái hay lắm phải nán lại mà sống chứ ". Đấy ,Cụ là thế, sống lạc quan yêu đời , nhiều khi cái vẻ yêu đời ,bất cần của Cu truyền sang cả tôi , Quang Trung, và  Trung Hải nữa. Vì thế mỗi lần chúng tôi găp nhau đều khó tránh đươc việc cạn chén nâng ly để " cho quên sự đời" như Cụ vẫn thường nói.
        Lúc này nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Cụ, tôi gợi ý " Hồi này lên mạng  cứ thấy mấy ông quan chức cỡ bự  có vẻ thich nói đên " TÂM NHÌN" lắm thì phải, vậy Cụ thấy thế nào ?". Như được gãi đúng chỗ ngứa, Cụ bèn nói liền một mạch :
    Chuyện về "tầm nhìn" chả phải nói đâu xa, xảy ra ngay trước cổng nhà Tú tôi. Chả là Quận , Phường gì đó chiếu cố đến dân mới bày ra một "Dự án" sửa đường và ống dẫn nước ở khu dân cư nơi tôi sinh sống. " Dự án" được thiết kế rồi thi công có vẻ chính quy lắm. Một hôm mấy công nhân đang say sưa làm việc ,thì bỗng nhiên có ông già bên nhà láng giềng chạy ra, khoa chân múa tay, nói với mấy công nhân là phải "nâng cốt " lên nữa làm thế mới đẹp , mới bền. Cụ Tú biết rõ ông ta nói thế chẳng qua là muốn  nâng cao mặt.đường để nước khỏi chảy vào nhà mình, nhưng lại cứ làm ra vẻ ta đây chỉ đạo! Tức quá  Tú tôi mới bảo thẳng với ông hàng xóm ấy : " Này tôi với ông quy hoạch rồi, tầm nhin dài lắm cũng chỉ đến 2014 thôi, thế mà ông lại phóng cái Tầm nhìn tới mãi 2050 ! Thôi đi , liệu ông còn đến lúc ấy không? Can thiệp vào chuyện của Quận của Phường làm gi nữa ông ơi !?" . Cũng tưởng thế là qua, ai ngờ đúng 2 hôm sau đã thấy bên nhà ông hàng xóm ấy dán cái cáo phó " Vô cùng thương tiếc" !
. Cụ Tú bảo, các ông quan tai to mặt lớn cũng thế thôi, ông nào cũng cư huênh hoang, nào là " Tầm nhin 2020 ", nào là " tầm nhìn  2050"  vài ngày sau đã thấy  thông báo  " Vô cùng thương tiếc "..
  Nói về  tâm thái , cách ứng xử của các " Quan phụ mẫu " thời nay, Cụ Tú đã đúc kết trong một đoản ngữ như là văn bia vậy. Đó không gị khác hơn là "Đi nhẹ, nói khẽ, cười tươi, cầm tinh con Gián  người người noi theo. " Ngẫm ra thật chí lý chẳng cần giải thích gì hơn.  Nói đến đấy Cụ bảo, cuộc sống bây giơ khác ngày trước lắm, người ta cư bảo " Ở hiền gặp lành " bây giờ thì cứ phải "liều" vì có  " Ở liều mới gặp lành ", sống bây giờ Phải "táo bạo " vì có "táo bạo mới tạo được niêm tin " . Nhưng mà bây giơ còn biết tin ai nữa chứ !.

    Uống trà mãi cũng ớn, tôi và Cụ bèn xoay sang " Cạn chén nhâm nhi, cho cuộc đời hoành tráng lâm ly " Cụ Tú bảo thế.  Uống xong vài ly rươu quê có pha thuốc Cu Mao tặng Cụ Hồ, cụ đeo lại chiếc kính "dâm" rồi nói như ra lệnh " Thôi bây gìơ đi thư giãn ".  Tôi bảo "Thế còn chuyên nhà chuyện cửa, chuyên vợ chuyên con ?".Cụ lắc đầu bảo "Chuyện ấy  để khi khác ta hãy bàn.". Vậy là tôi  hẹn Cụ lần sau lên đây chúng tôi sẽ trò chuyện tiếp ,còn bây giờ thì như Cụ nói :
             "  Tôi muốn xa lánh chuyện đời
               Tôi muốn quên đi loài người... "
        Nhưng liệu Cụ có quên đi được không ?

                                                                                    Công Lý ghi tại nhà vườn 24/5/2013

       

Thứ Năm, 23 tháng 5, 2013

CHÚT LÃNG MẠN GIỮA MÙA HÈ


Hà Nội vào hè đã lâu và hôm nay  đang trong cái nắng chói chang của mùa hè. Đi trên con phố thân quen, phố Nguyễn Du bất chợt tôi thấy  mấy cây hoa phượng đỏ rực  bên lề đường, tuy chỉ có vài cây nhưng cái sắc đỏ của hoa phượng nổi lên trên bạt ngàn màu xanh của cây lá nên vẫn rất cuốn hút. Lúc này  nghe râm ran tiếng ve kêu, bỗng dưng tôi nhớ lại thời thơ ấu , nhớ về năm học cuối cùng của một thời " phượng hồng".  Thảo nào người ta cứ gọi Hoa phượng là " Hoa học trò". 

Tôi ghé vào một quán ca phê ngay trên con phố này, sắc đỏ của những cánh hoa phượng vẫn ám ảnh trong tâm trí tôi, tiếng nhạc đâu đó vang lên. Khi chàng trai phục vụ của nhà hàng  đem cốc cà phê đến cho tôi, nhìn về dãy hoa phượng phìa trước mặt, tôi ghé tai anh bạn nói nhỏ  :  "cho nghe bài hát 'Hoa học trò ' đi ". Anh bạn đáp ứng ngay, thế là lập tức giai điệu nhẹ nhàng êm dịu cùng những lời ca mượt mà vang lên bên tai tôi :

     Bây giờ còn nhớ hay không
     Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa..


  Bao giờ cho đến ngày xưa nhỉ ? câu hỏi chẳng bao giơ có lời đáp , nhưng cái thời "ngày xưa " của tuổi học trò ấy đã dễ mấy ai quên. Tôi lặng lẽ nghe tiếp câu chuyện của hai cô cậu học trò thơ ngây với chùm hoa phựơng  trong tay họ :
    ... Ngây thơ em rủ anh ra
    Bảo nhặt hoa phượng về nhà chơi chung

 Cô học trò nhỏ thì như vậy, còn chàng trai đang tuổi mộng mơ thì :

    ...Anh đem cánh phượng tô hồng má em
     Để cho em đẹp như tiên....

 Nhưng..
           Em không chịu ,sợ phải lên trên trời
           Lên trời hai đứa hai nơi
           Thôi em chỉ muốn làm người trần gian...


  Cô gái chẳng muốn lên trời thành tiên, chỉ muốn ở lại trần gian để  khỏi phải xa người bạn mà hình như đã để lại chút gì đó tựa như là tình yêu đầu đời trong trái tim còn non nớt của cô.

    Câu chuyện của họ bất giác làm tôi hồi tưởng lại cái thời 'phượng hồng" ấy.  Đó là vào năm lớp 10 ở trương Chu Văn An. Lúc đó tôi chỉ là một chàng trai ngây ngô, mang cái tên "ngố Tàu" vì mới bên đất Tàu trở về mà. Nhưng dù ngô nghê đến đâu thì một chàng trai mới lớn như tôi cũng không thể nào hờ hững trước những tà áo trắng của các nữ sinh hoc cùng trường. 

Quanh trương Chu văn An khi đó tôi nhớ cũng có nhiều hoa phượng lắm, mà học sinh  con trai thì rất thích hái mấy cành hoa phượng đỏ ấy để tặng cho các bạn gái cùng lớp. Khổ cái tôi lại nhát gái và rất sợ giáp mặt với mấy cô bạn cung lớp vừa bằng tuổi mình lại quá già dặn trong đường đời. Thế là tôi bèn để mắt tới mấy cô học trò ở lớp dưới. Hồi ấy tôi hay đi theo đường  CỔ NGƯ để đến trường. Một lần tan trường trên đường trở về nhà tôi bắt gặp một cô gái cùng đi với em gái tôi đên trương Chu văn An.
Hồi đó cấp 3 chúng tôi học buổi sáng còn cấp 2, lớp 7 thì học buổi chiều . Tôi để ý ngay đến cô gái ấy. Thực ra thì cô học trò ấy cũng không có gì đặc biệt cho lắm, một dáng dấp thanh mảnh, mái tóc để xõa trên vai,  vẻ đẹp hồn nhiên, chỉ riêng có nụ cười là có vẻ bí ẩn lắm. Qua em gái mình tôi biết tên cô học trò ấy là  Hoa. Tên nghe cũng bình dị , không biết là tên Hoa thì thích loài hoa gì, tôi cứ vẩn vơ nghĩ hoài rôi tự cho là  chắc cô bé ấy cũng thích hoa phượng như mọi cô nữ sinh khác thôi. Thế là tôi tìm cách làm quen, hái một chùm hoa phượng định bụng sẽ tặng cho cô ấy.  Nhưng thật không may cho một "chàng khờ" như tôi.
Hôm đó cũng trên đường Cổ Ngư ấy tôi lại bắt găp cô ấy, nhưng lần này cô ấy không  đi chung với em gái tôi mà bên cạnh cô là một chàng trai dắt chiếc xe đap Pơ-gio bóng loáng, đáng buồn cho tôi nữa la trên giỏ xe của chang trai ấy đã có sẵn một chùm hoa phượng, tôi lăng lẽ không  nói gi, đem chùm hoa phượng đỏ tôi cầm trên tay  đưa cho một cô bé trạc mười tuổi mà tôi băt gặp trên đường đi, cô bé con chả hiểu chuyện gì, nhận chùm hoa rôi cười rất tươi. Gía mà nụ cười ấy nở trên môi cô bé học trò của tôi nhỉ ,tôi chỉ ước ao có vậy, nhưng than ôi....
     
Chuyện thời xa xưa của tôi hóa ra lai rất giống với chàng trai trong bài hát "Hoa học trò" mà giơ đây tôi đang lắng nghe với một tâm tư buồn sâu lắng.
      Hôm nay phượng nở huy hoàng
      Nhưng từ hai đứa lỡ làng duyên nhau
      Rưng rưng phượng nở trên đầu
     Tìm em anh biết tìm đâu bây gìơ...

 Chàng trai học trò đó không biết đi tìm cô bạn ở đâu, còn tôi nhớ lại chuyện cũ chỉ thấy như một làn gió thoảng qua, tôi cũng chẳng bao giờ đi tìm nàng, và tôi cũng không than vãn như cậu học trò kia :
     Bây giờ tìm kiếm nơi đâu ?
     Bây giò thì mãi xa nhau..

     Tôi vẫn ngồi lặng lẽ ngắm nhưng chùm hoa phượng đỏ  rực phía trước và vẫn nghe mãi giai điệu diu êm của bài "Hoa học trò ". Thật khó quên những ký ức môt thơi xa xưa, thời của hoa phượng hồng, thời của "Hoa học trò".

 


                                                                         Một ngày hè, 22/5/2013
                                                                               Công Lý

                   

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2013

VỀ VƯỜN


                     Một ngày hè oi ả, nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày tìm được mảnh vườn, ao cá làm nơi trú ngụ  để tránh cái nóng nực nơi thành thi, tôi trở lai vườn xưa, ngồi một mình trên nhà sàn ,nhấp chén rượu quê bỗng thấy nhớ bạn bè da diết, tức cảnh làm mấy câu thơ :
   
    Về vườn (
Từ ngày thôi việc về vườn
Ngồi chơi xơi nước, tìm đường về quê
Nhà sàn ao cá đề huề
Vườn cây bóng mát trưa hè thảnh thơi
Chén trà xanh nóng bồi hồi
Đầu hè thánh thót chim trời líu lo
Hoa soan rụng trắng sau nhà
Tường vi mấy nụ hương hoa ngạt ngào
Cuộc đời chả sướng đó sao
Sáng ra cuốc đất, tối vào vịnh thơ
Khi nghe nhạc, lúc chơi cờ


Buồn thì nhấp chén đợi chờ trăng lên
   
 Đôi khi bạn cũ ghé thăm
 Nhà sàn vui chén rượu cần men say.

 Về vườn là thế này đây
 Thiên đường chốn ấy nơi này kém chi.


 (HN , một ngày hè oi ả  18/5/2013)
----------------------
Ảnh : Quang Trung 

Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013